NHÀ HÁT OPERA VÀ NGHỊCH LÝ CỦA SỰ HỌC ĐÒI
Lê Việt Đức - Người văn minh thì học hỏi; kẻ ngu xuẩn thì học đòi hay đua đòi. Hà Nội đang có vô số việc cấp bách cần làm, điển hình là các công trình chống ngập, chống lũ…, nhưng lại không làm mà điên rồ tốn tiền tốn sức đua đòi xây cái nhà hát vô bổ. Lại nhớ tới câu nói của nhà toán học Nguyen Ngoc Chu (có thời tôi đã được cùng làm toán với bác): Chỉ khi nào lãnh đạo Hà Nội do người dân chọn và bầu ra một cách dân chủ thì Hà mới có thể vươn mình phát triển.

Trình độ người Việt Nam bây giờ xem opera hay nghe nhạc cổ điển không khác gì lợn xem người, vịt nghe sấm.
Hồi ông Đặng Thái Sơn đoạt giải thưởng âm nhạc Frédéric Chopin năm 1980, Bộ Văn hoá tổ chức cho ông biểu diễn báo cáo để lãnh đạo và quan chức cấp cao Chính phủ xem, đang giữa khoảng lặng u buồn, mọi người đứng lên vỗ tay ầm ĩ vì tưởng bản nhạc kết thúc. Nghệ sĩ Đặng Thái Sơn đã bật khóc…, vì nghệ thuật bị bóp cổ.
Quan chức cấp cao đi Tây đi Tầu quanh năm còn chưa biết, chưa hiểu opera và nhạc cổ điển thế nào thì làm sao người dân hiểu được. Xây nhà hát xong ai xem, chỉ để làm phòng cưới thì có ích gì ?
—————
Bình luận của nhà báo KD: Một bài viết chí lý. Opera là sản phẩm nghệ thuật của những QG phương tây có nền tảng VH cao và vững chãi. Với Qg tiểu nông như Đông Lào, dù muốn dù ko cũng còn lạ lẫm. Xưa có nhạc kịch Cô Sao của Đỗ Nhuận- chẳng mấy hấp dẫn. Ca sĩ diễn cho nhau xem, và hát cho nhau nghe. Rồi Cô Sao tắt lịm… Chả hiểu nay mai Nhà hát Opera Ngọc Trai có sáng lóe như nhạc kịnh Cô Sao năm nào ko?
FBker Hoàng Ngọc đã thống kê: HN đã có tới 6 nhà hát:
1/ Nhà hát lớn
2/ Nhà hát Hồ Gươm
3/ Nhà hát ca múa nhạc Quốc gia ( ở Huỳnh Thúc Kháng )
4/ Nhà hát ca múa nhạc Quân đội ( ở Cầu Giấy )
5/ Phòng ca nhạc Học viện âm nhạc Quốc gia ( Ở Hào Nam )
6/ Nhà hát ca múa nhạc Thăng Long ( ở Hàng Gai).
Trong khi HN còn thiếu đủ các công trình công cộng. Riêng GD, Hà Nội đang thiếu hàng chục trường học, đặc biệt là ở khu vực nội đô do tăng dân số cơ học. Năm 2023 thiếu 49 trường tại 8 quận nội đô và năm 2024 thiếu 31 trường THCS.
Và về vệ sinh môi trường, Hà Nội hiện đang thiếu khoảng 1.500 - 2.500 tấn công suất xử lý rác thải mỗi ngày, bởi thành phố phát sinh 7.000 - 8.000 tấn rác thải, trong khi số nhà máy hiện tại chỉ xử lý được khoảng 5.500 tấn.
Trẻ em cần chỗ học. Môi trường thành phố cần sạch đẹp, ko ô nhiễm nhất nhì thế giới… Nhưng cái cần đó có lẽ cần hơn nhỉ?
Sự sang trọng cũng phải đặt đúng chỗ. Chứ “làm sang” ko sang được- rút cục chỉ là sự học đòi.
-------------
(Tác giả: Fb Khanh Nguyen Tuan)
Đôi khi, sự học đòi văn minh lại chính là bằng chứng rõ nhất của sự lạc hậu.
Opera – thứ nghệ thuật từng là đỉnh cao của châu Âu thế kỷ XVII – nay, ngay ở Ý, Pháp, Anh… cũng không thể tự nuôi sống mình.
Ở Paris, Nhà hát Opera phải nhận trợ cấp hơn 100 triệu euro mỗi năm.
Ở Vienna, Nhà hát Quốc gia được bù gần 80 triệu euro, chiếm hơn nửa ngân sách.
Ở London, Royal Opera House vẫn phải dựa vào nguồn tài trợ công và quỹ từ thiện.
Opera sống được không phải nhờ bán vé, mà vì người châu Âu coi đó là di sản tinh thần – một phần ký ức cần được bảo tồn.
Ngay cả ở những nơi sinh ra opera, khán giả cũng không còn đông đảo như trước.
Điều đó không có nghĩa là công chúng châu Âu đang lạc hậu đi, mà chỉ cho thấy họ đã chuyển hướng sang những loại hình biểu diễn khác – gần gũi hơn với nhịp sống và cảm quan của thời đại mới: nhạc kịch, hòa nhạc đương đại, điện ảnh, hay các festival ngoài trời.
Cùng với sự thay đổi đó, những trường nghệ thuật lớn ở châu Âu cũng ghi nhận số sinh viên chọn học thanh nhạc cổ điển và opera ngày càng ít. Phần lớn trong số hiếm hoi theo ngành này đều phải làm đa ngành – vừa dạy, vừa biểu diễn, vừa tham gia các dự án âm nhạc hiện đại – để duy trì đời sống.
Nói cách khác, ngay cả nơi opera ra đời, nó cũng đã trở thành một mảnh di sản sống bằng sự trân trọng quá khứ, chứ không còn là trung tâm của đời sống nghệ thuật đương đại.
Thế nhưng ở Việt Nam – nơi gần như chưa có truyền thống opera, nghệ sĩ opera, khán giả opera – người ta lại đua nhau xây “Nhà hát Opera” nghìn tỉ, như biểu tượng của sự văn minh.
Cái vỏ kiến trúc hoành tráng được dựng lên để “thể hiện đẳng cấp quốc tế”, trong khi bên trong không có một đời sống nghệ thuật nào thực sự tồn tại.
Nghịch lý nằm ở chỗ:
Ở nơi sinh ra opera, người ta phải nuôi nó để khỏi chết;
Còn ở nơi chưa từng có opera, người ta lại xây đền thờ, cái đền nguy nga – nhưng không biết thờ ai, và chẳng có tín đồ.
Đừng vội nói rằng: “Đó là vốn tư nhân, không đụng đến ngân sách.”
Nên nhớ: họ xây trên đất công, những vị trí đẹp nhất – nơi dù có tiền cũng không thể sở hữu.
Cái gọi là “tư nhân” ấy thực chất là một đặc quyền – là cách chuyển hóa đất công thành lợi ích riêng, dưới danh nghĩa “phục vụ”.
Ai đảm bảo rằng sau khi xây xong, những “nhà hát” ấy sẽ không biến thành nơi tổ chức tiệc cưới, lễ hội, hay thương mại.
Nhìn ra thế giới:
Sydney Opera House – biểu tượng của Úc – thực ra được xây trong bối cảnh Sydney trở thành trung tâm văn hóa của làn người châu Âu di cư
Nó được dựng lên trước hết để phục vụ cộng đồng đã có truyền thống nghe opera, rồi sau đó mở rộng thành trung tâm nghệ thuật biểu diễn tổng hợp – chứ không phải để làm biểu tượng.
Chính vì có nhu cầu thật, nên kiến trúc mới được ra đời, rồi trở thành biểu tượng – chứ không phải ngược lại.
Tương tự, những nhà hát opera mới ở Trung Đông như Dubai Opera hay King Abdulaziz Center for World Culture (Riyadh) cũng chỉ là một phần trong chiến lược du lịch và hình ảnh quốc gia – hướng đến du khách quốc tế và tầng lớp chuyên gia phương Tây sinh sống tại đó.
Chúng được sinh ra từ nhu cầu nội tại của xã hội, chứ không từ khát vọng được thừa nhận là “người văn minh”.
Dưới góc nhìn của người làm nghề , tôi chỉ muốn nói điều này:
Bản thân quy hoạch đô thị đã là một vở opera – một tổng thể phức hợp hài hòa của hạ tầng, không gian, kiến trúc, cảnh quan và đời sống con người.
Khi kịch bản tồi, thì dù có một “siêu sao” – như cái “nhà hát opera” kia – nó cũng không thể cứu nổi một vở diễn tệ.
Và nếu được xây dựng lên, thì đó không phải là kiến trúc phục vụ sống thật, mà là giả sống – thể loại kiến trúc “check-in”- đặc sản của kiến trúc Việt Nam đương đại.
(Quan điểm riêng, có tham khảo dữ liệu từ Google, ChatGPT (GPT-5), đặc biệt ở phần số liệu về kinh phí vận hành và trợ cấp cho các nhà hát opera châu Âu.)
Đôi khi, sự học đòi văn minh lại chính là bằng chứng rõ nhất của sự lạc hậu.
Opera – thứ nghệ thuật từng là đỉnh cao của châu Âu thế kỷ XVII – nay, ngay ở Ý, Pháp, Anh… cũng không thể tự nuôi sống mình.
Ở Paris, Nhà hát Opera phải nhận trợ cấp hơn 100 triệu euro mỗi năm.
Ở Vienna, Nhà hát Quốc gia được bù gần 80 triệu euro, chiếm hơn nửa ngân sách.
Ở London, Royal Opera House vẫn phải dựa vào nguồn tài trợ công và quỹ từ thiện.
Opera sống được không phải nhờ bán vé, mà vì người châu Âu coi đó là di sản tinh thần – một phần ký ức cần được bảo tồn.
Ngay cả ở những nơi sinh ra opera, khán giả cũng không còn đông đảo như trước.
Điều đó không có nghĩa là công chúng châu Âu đang lạc hậu đi, mà chỉ cho thấy họ đã chuyển hướng sang những loại hình biểu diễn khác – gần gũi hơn với nhịp sống và cảm quan của thời đại mới: nhạc kịch, hòa nhạc đương đại, điện ảnh, hay các festival ngoài trời.
Cùng với sự thay đổi đó, những trường nghệ thuật lớn ở châu Âu cũng ghi nhận số sinh viên chọn học thanh nhạc cổ điển và opera ngày càng ít. Phần lớn trong số hiếm hoi theo ngành này đều phải làm đa ngành – vừa dạy, vừa biểu diễn, vừa tham gia các dự án âm nhạc hiện đại – để duy trì đời sống.
Nói cách khác, ngay cả nơi opera ra đời, nó cũng đã trở thành một mảnh di sản sống bằng sự trân trọng quá khứ, chứ không còn là trung tâm của đời sống nghệ thuật đương đại.
Thế nhưng ở Việt Nam – nơi gần như chưa có truyền thống opera, nghệ sĩ opera, khán giả opera – người ta lại đua nhau xây “Nhà hát Opera” nghìn tỉ, như biểu tượng của sự văn minh.
Cái vỏ kiến trúc hoành tráng được dựng lên để “thể hiện đẳng cấp quốc tế”, trong khi bên trong không có một đời sống nghệ thuật nào thực sự tồn tại.
Nghịch lý nằm ở chỗ:
Ở nơi sinh ra opera, người ta phải nuôi nó để khỏi chết;
Còn ở nơi chưa từng có opera, người ta lại xây đền thờ, cái đền nguy nga – nhưng không biết thờ ai, và chẳng có tín đồ.
Đừng vội nói rằng: “Đó là vốn tư nhân, không đụng đến ngân sách.”
Nên nhớ: họ xây trên đất công, những vị trí đẹp nhất – nơi dù có tiền cũng không thể sở hữu.
Cái gọi là “tư nhân” ấy thực chất là một đặc quyền – là cách chuyển hóa đất công thành lợi ích riêng, dưới danh nghĩa “phục vụ”.
Ai đảm bảo rằng sau khi xây xong, những “nhà hát” ấy sẽ không biến thành nơi tổ chức tiệc cưới, lễ hội, hay thương mại.
Nhìn ra thế giới:
Sydney Opera House – biểu tượng của Úc – thực ra được xây trong bối cảnh Sydney trở thành trung tâm văn hóa của làn người châu Âu di cư
Nó được dựng lên trước hết để phục vụ cộng đồng đã có truyền thống nghe opera, rồi sau đó mở rộng thành trung tâm nghệ thuật biểu diễn tổng hợp – chứ không phải để làm biểu tượng.
Chính vì có nhu cầu thật, nên kiến trúc mới được ra đời, rồi trở thành biểu tượng – chứ không phải ngược lại.
Tương tự, những nhà hát opera mới ở Trung Đông như Dubai Opera hay King Abdulaziz Center for World Culture (Riyadh) cũng chỉ là một phần trong chiến lược du lịch và hình ảnh quốc gia – hướng đến du khách quốc tế và tầng lớp chuyên gia phương Tây sinh sống tại đó.
Chúng được sinh ra từ nhu cầu nội tại của xã hội, chứ không từ khát vọng được thừa nhận là “người văn minh”.
Dưới góc nhìn của người làm nghề , tôi chỉ muốn nói điều này:
Bản thân quy hoạch đô thị đã là một vở opera – một tổng thể phức hợp hài hòa của hạ tầng, không gian, kiến trúc, cảnh quan và đời sống con người.
Khi kịch bản tồi, thì dù có một “siêu sao” – như cái “nhà hát opera” kia – nó cũng không thể cứu nổi một vở diễn tệ.
Và nếu được xây dựng lên, thì đó không phải là kiến trúc phục vụ sống thật, mà là giả sống – thể loại kiến trúc “check-in”- đặc sản của kiến trúc Việt Nam đương đại.
(Quan điểm riêng, có tham khảo dữ liệu từ Google, ChatGPT (GPT-5), đặc biệt ở phần số liệu về kinh phí vận hành và trợ cấp cho các nhà hát opera châu Âu.)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét