Việt Nam khai quốc - the birth of Vietnam (6)
Khi thay thế nhà Tấn cai trị Giao Châu, việc đầu tiên nhà Tống làm là tìm cách dẹp yên các cuộc quấy phá từ lân bang Lâm Ấp. Dưới trướng Phạm Dương Mại, một vị vua trẻ và luôn rắp tâm bắc tiến, năm 424, quân Lâm Ấp tiến chiếm phần còn lại của Nhật Nam và đột kích Cửu Đức. Đỗ Hoàng Văn đang chuẩn bị chinh phạt Lâm Ấp để trả đũa thì được sắc chỉ nhà Tống lên Nam Kinh nhậm chức mới. Vương Huy lên thay Đỗ Hoàng Văn làm Thứ Sử Giao Châu nhưng việc chinh phạt không được thực hiện được vì Vương Huy, vốn là đại thần tại triều đình, đang quá bận bịu trong việc củng cố quyền hành của nhà Tống ở các địa phương khác.
Lợi dụng cơ hội đó, Dương Mại cho củng cố đồn lũy pháo đài ở Khu Túc, gần cửa sông Gianh, nơi từng được Phạm Hồ Đạt phòng thủ cẩn thận trong chiến dịch vào năm 399 trước đó. Là một trung tâm thương mại quốc tế và trấ biên đồn phía Bắc của Nhật Nam cũ, nên Khu Túc giữ vị trí then chốt trong cuộc phòng thủ vùng biên giới Lâm Ấp.
Năm 430, để dò xét thái độ của nhà Tống, Dương Mại vờ sai sứ giả sang triều cống và xin lỗi về việc đã có hành động không hữu nghị với Giao Châu. Tin rằng nhà Tống sẽ không có phản ứng mạnh nên năm 431, Dương Mại lại đem trên 100 chiến thuyền vào đánh phá bờ biển Cửu Đức. Trái với dự đoán của Dương Mại, Nguyên Di Chi, người kế vị Vương Huy, lập tức sai một đạo quân và một đội chiến thuyền đến Khu Túc để phản công nhưng vì thời tiết xấu và thủy chiến vào đêm tối không có lợi nên đội chiến thuyền không tiến được và chiến dịch lại bị bãi bỏ.
Thừa thắng xông lên Dương Mại yêu cầu vua Phù Nam giúp thêm binh sĩ để tiến chiếm Giao Chỉ, nhưng bị từ chối. Năm 433, Dương Mại lại sai sứ sang yêu cầu nhà Tống chính thức nhường đất Giao Chỉ nhưng tất nhiên Tống triều từ chối. Thế là liên tiếp vào những năm 435, 438, 439 và 441, Dương Mại một mặt gởi đồ cống nạp Tống triều, một mặt gia tăng đột kích, xâm nhập đất Giao.
Phản ứng của nhà Tống thương đến chậm, nhưng lại được chuẩn bị kỹ và thi hành triệt để. Mặc dù các triều vua ở Nam Kinh thường quá yếu không gây được ảnh hưởng đối với tình hình Giao Chỉ nhưng khi tình hình trở nên nghiêm trọng thì họ cũng có thể huy động đủ binh lực để đem quân chinh phạt miền Nam xa xôi. Lần này, việc huy động binh lực dễ dàng hơn nhờ sự quan tâm về quyền lợi sống còn của những gia đình làm nghề thương mại và thuộc lớp quý tộc trong xã hội Tống từng di dân xuống miền Nam trước đó. Thế là sau một thời gian lơ là vì chiến cuộc bất phân thắng bại ở phía Bắc Tống triều lại quay sự chú ý về phương Nam.
Năm 433, Thứ Sử Giao Châu lúc đó là Đàn Hòa Chi được lệnh tuyển mộ binh sĩ và sĩ quan để sửa soạn chinh phạt Lâm Ấp. Ba năm sau, khi đã chuẩn bị cẩn thận, Hòa Chi đưa xuống miền Nam một đạo quân hùng hậu do hai tướng chỉ huy: một là Tông Sắc, một tướng giỏi từng tình nguyện tham gia cuộc viễn chinh và được phong chức Thống Soái với tước hiệu ” Kích Chiến Tướng Quân,” hai là Tiêu Cảnh Hiến, một tướng kỵ binh nổi tiếng được giao ấn tiên phong vì từng ứng xử rất tài tình đối với những biến cố ở biên cương.
Được tin quân Hòa Chi đang đến, Dương Mại run sợ và sai sứ giả đến điều đình để xin trả lại tất cả những tù binh và lãnh thổ đã chiếm cùng với một số tiền bồi thường bằng vàng và bạc rất lớn. Hòa Chi tiến vào Nhật Nam và cử sứ giả sang Lâm Ấp mang thư Tống triều chấp thuận việc xin hàng của Dương Mại. Nhưng Dương Mại đã lấy lại được bình tĩnh và trở mặt bằng cách bắt giam phái bộ Tống và sai một bộ tướng đến phòng thủ Khu Túc. Nhưng quân Tống nhanh chóng bao vây Khu Túc và, mặc dù có quân cứu viện từ Lâm Ấp kéo lên, Khu Túc bị quân Tống đè bẹp. Tương truyền rằng quân Tống giết hết tất cả người lớn trong thành khiến khắp nơi máu chảy đầu rơi, xác người chất cao thành núi, còn bao nhiêu của cải vàng bạc đều bị quân Tống chiếm hết làm chiến lợi phẩm.
Từ Khu Túc, quân Tống kéo thẳng xuống kinh đô Lâm Ấp. Trong tình thế tuyệt vọng, Dương Mại bắt hết dân trong nước xung vào quân đội, thành một đạo quân lớn được dẫn đầu bằng một đội voi chiến mình bọc sắt. Quân Tống, theo sử chép, hầu như đều thất đảm khi thấy sẽ phải đương đầu với một đội quân đông như thế nhưng Tống Sắc nói: “Ta nghe nói sư tử là giống vật mà tất cả các loài vật phải sợ.” Thế rồi ông ra lệnh cấp tốc chế các con sư tử bằng tre thật to ngoài phất giấy. Quân Tống dàn hàng ngang tiến lên với những con sư tử bằng giấy được vác đi trước khiến đội binh voi của Lâm Ấp hoảng sợ quay đầu chạy tán loạn dầy xéo lên nhau mà chết.
Quân của Dương Mại bị tan tác hoàn toàn và ông phải chạy trốn lên núi. Hòa Chi đại thắng, kéo quân vào kinh đô Lâm Ấp và lấy được không biết bao nhiêu chiến lợi phẩm, kể cả 50 tấn vàng ở các chùa chiền và dinh thự. Quân Tống còn đồn trú tại Lâm Ấp thêm gần một năm. Mãi đến năm 447 khi quân Tống rút hẳn thì Dương Mại mới dám mon men trở về. Nhìn tận mắt cảnh tan hoang, dân chúng gần như bị giết sạch nên sau đó Dương Mại quá buồn rầu mà chết.
Cuộc chinh phạt Lâm Ấp của Đàn Hoà Chi đã chấm dứt một thế kỷ chiến tranh dai dẳng. Từ đó về sau, miền biên thùy được hưởng thái bình. Kinh đô cũ của Lâm Ấp, ở gần kinh thành Huế bây giờ bị phế bỏ và những người kế vị Dương Mại lập kinh đô mới ở Trà Kiệu quá về phía Nam, gần Đà Nẵng ngày nay.
Nguyên thủy là một tiền đồn phía cực Nam của đế quốc Hán, Nhật Nam trong ba thế kỷ đã luôn bị Lâm Ấp dòm ngó vì các vua Lâm Ấp đã hiểu biết được thực lực lúc lên lúc xuống của bắc triều. Trong suốt thời gian này Nhật Nam đã là một bãi chiến trường về cả văn hoá và chính trị. Khi mà quân lực của Trung Quốc càng mạnh bao nhiêu, chiến cuộc càng gay cấn bấy nhiêu. Mặc dầu Nhật Nam vẫn còn trong tay Trung Quốc qua biến cố bi thảm vào năm 446, sự tàn bạo của chiến cuộc đã cho thấy rõ rằng đây là lần đầu tiên Trung Quốc đem quân đi chinh phục một vương quốc lân bang chứ không phải giải phóng một quận mà họ đang đô hộ. Sau một thời gian làm bá chủ miền biên giới thì nhà Hán lại trở nên tàn tạ không còn sức để chinh phạt phương nam và nhiên hậu Nhật Nam cũng dần dần vào tay vương quốc Lâm Ấp. Rõ ràng Nhật Nam đã tách rời ra khỏi quĩ đạo bắc triều không bằng chiến tranh mà bằng vị trí địa dư nơi mà rặng Hoành Sơn đã trở thành lằn ranh văn hoá và chính trị đối với bắc triều. Trong khi đó vương quốc Lâm Ấp lại càng phát triển các ảnh hưởng xuống các vùng xa về phía nam và đồng thời củng cố mặt trận văn hoá và chính trị. Lịch sử sau này cho thấy rằng phải mãi đến thế kỷ 15, người Việt Nam mới chính thức lấy lại được Nhật Nam.
TỐNG TRIỀU CÁO CHUNG
Trong khi biên giới phía nam của Giao Châu thu gọn vào một đường ranh giới theo địa lý thiên nhiên hơn, một tiến trình tương tự cũng xảy ra ở miền Bắc. Sau khi quân Tống chiến thắng quân Lâm Ấp trở về, Tiêu Cảnh Hiến được phong Thứ Sử Giao Châu để thưởng công cho ông đã “vỗ yên được các dân man di vùng hoang dại.” Quyền hành quân sự của Tiêu Cảnh Hiến còn bao trùm các huyện Uất Lâm và Ninh Phố ở Quảng Châu là hai huyện biên thùy nằm trong vùng núi phân chia lưu vực sông Tích và sông Hồng và cách bờ biển bởi huyện Hợp Phố. Còn ở mặt Tây là các miền đất rừng núi hoang vu của Vân Nam và Quế Châu. Việc bổ nhiệm Tiêu Cảnh Hiến khởi đầu một chính sách khai mở những vùng đất trước kia bị bỏ hoang dẫn đến đưa đến việc thành lập Việt Châu gồm có Hợp Phố và vùng đất giữa Quảng Châu và Giao Châu vào năm 471. Thế là vùng biên thùy phía bắc Giao Châu nay bị thu nhỏ lại vì Hợp Phố được tách rời ra để thành trung tâm của Việt Châu mới được thành lập.
Dưới thời Tống cũng có nhiều sự thay đổi về mặt hành chánh trong nội bộ giới cai trị Giao Châu. Quận Giao Chỉ được chia ra để lập quận Tống Bình ở Nam sông Hồng, Hà Nội ngày nay. Đây là lần điều chỉnh đầu tiên có ý nghĩa hành chánh ở Giao Châu kể từ những năm 270 khiến dẫn đến việc mở rộng hệ thống dẫn thủy nhập điền dọc sông Hồng nhằm phát triển các vùng trồng lúa và dân cư đông đúc. Là trung tâm địa lý của đồng bằng sông Hồng, tầm quan trọng của vùng này còn tăng hơn nữa khi phần phía nam được dần dần khai phá để trồng trọt.
Nhắc lại cuộc chinh phạt Lâm Ấp vào năm 446, mặc dù Tông Sắc, vị thống soái của Tống, từ chối không nhận phần chia các chiến lợi phẩm, nhưng những binh lính Tống, không được hào hiệp như ông, thì lại khác. Các vật phẩm họ mang về đã trở thành một sức bật kinh tế cho miền Nam vào thế kỷ thứ 5 dẫn đến những tăng trưởng rất nhanh về dân số và hành chánh mặc dầu sự tăng trưởng này chỉ giới hạn vào Quảng Châu và Việt Châu.
Bảng 3 dưới đây cho thấy những chi tiết về hành chánh và dân số dưới ba triều đại ở thế kỷ thứ 5. Trong khi con số các huyện ở Quảng Châu tăng gần gấp ba và những con số ở Việt Châu cũng tăng lên nhiều, ở Giao Châu lại giảm một ít.
Bảng 3. HỒ SƠ HÀNH CHÁNH ĐỜI TẤN, TỐNG VÀ TỀ
| | TẤN (265-419) | TỐNG (420-478) | TỀ (479-501) |
| Số Huyện: Quảng Châu Việt Châu Giao Châu | 68 … 53 | 136 7 53 | 188 55 52 |
| Số Hộ Dân: (nhà Tề không có) Quảng Châu Việt Châu Giao Châu | 43,120 … 25,600 | 49,726 938 10,453 | |
| Số Hộ Dân ở Giao Châu theo Quận: (nhà Tề không có, nhà Tống không đủ) Hợp Phố Giao Chỉ Tân Xương Vũ Bình Cửu Chân Cửu Đức Nhật Nam | 2,000 12,000 3,000 5,000 3,000 … 600 | … 4,233 … 1,490 2,328 809 402 |
Tài liệu: Tấn Thư: trang 15; 8b; 9b; Tống Thư: 38. 23b-44b; Nam Tề Thư: 14-20a 28b.
Thống kê dân số đời Tấn và Tống chỉ gồm có các hộ dân và không đầy đủ (một sử gia đương đại ước tính rằng dân số thực sự của Giao Châu ít ra cũng phải nhiều gấp 10 lần như thế). Những con số thống kê đời Tấn rõ ràng chỉ là những con số ước đoán nên không thể cho biết chính xác về dân số lúc đó. Tuy nhiên vì đây là những con số chính thức từ giới cầm quyền chúng ta có thể kết luận rằng từ nửa thế kỷ 5 về sau, nền cai trị của Trung Quốc đang dần biến khỏi Giao Châu.
Quyền lực của nhà Tấn ở Giao Châu bị sa sút sau khi kết thúc chiến tranh với Lâm Ấp vào thế kỷ 4; và quyền lợi của nhà Tống ở thế kỷ 5 cũng thế khi các triều đình chìm đắm trong say sưa, trác táng và bạo loạn. Năm 479, họ Tiêu hạ bệ nhà Tống và lập nên nhà Tề. Năm 502, một vị hoàng thân khác lại phế bỏ nhà Tề và lập nên nhà Lương. Cùng lúc đó Trung Quốc phải thường xuyên đánh nhau với xứ Toba ở phương bắc, và do đó họ chẳng còn thời giờ ngó ngàng đến miền Nam xa xôi nữa.
Dưới triều vua Tiêu Ngô (454-64), Hoàn Hoành đuợc bổ làm Thứ Sử Giao Châu sau khi hối lộ một món tiền khổng lồ. Sau đó Hoàn Hoành lại đem bán lại các chức vị cấp dưới để lấy cả vốn lẫn lời mặc dù phải nộp một số phần trăm cho triều đình. Rõ ràng những quan chức được mua bán ấy phần lớn đến Giao Châu chỉ để vơ vét cho thật nhiều so với số tiền họ đã bỏ ra để đầu tư. Tuy nhiên, cai trị Giao Châu thời ấy có hai quan chức Tống không thuộc loại tham ô này. Một là Thứ Sử Nguyễn Nghiên, một nhà thư pháp có nét chữ rất đẹp. Một vị đại thần khác là Truơng Mục Chi là người khi biết trong triều có “đại hoạ sắp đến” nên yêu cầu được bổ nhiệm đi xa làm Thái Thú Giao Chỉ để yên thân.
Vì tham nhũng và thái độ “làm giàu mau lẹ” luôn ám ảnh các quan chức từ phương bắc nên giới cầm quyền địa phương, hỗ trợ bởi các gia đình có thế lực, đều tìm mọi cách để nắm lại quyền kiểm soát mọi công việc ở trong châu. Năm 468, nhân lúc Thứ Sử Lưu Mục chết vì bệnh một người địa phương tên là Lý Trượng Nhân nổi lên giết hết các quan chức từ phương bắc xuống và tự xưng làm Thứ Sử Giao Châu. Trong khi đó vì thực lực của triều đình không có nên Thứ Sử Quảng Châu cũng bị loạn quân giết. Vài tháng sau, triều đình Trung Quốc lại cử Lưu Bột xuống thay Lưu Mục làm Thứ Sử Giao Châu nhưng Trượng Nhân đóng cửa biên giới để ngăn không cho Lưu Bột đến. Lưu Bột chết sau đó không lâu và Tống triều đành chính thức công nhận Lý Trượng Nhân làm Thứ Sử Giao Châu.
Khoảng những năm 468 và 471, Lý Trượng Nhân chết và cháu là Lý Thục Hiên lên thay. Nhưng Thục Hiên không đủ bản lãnh thi hành nhiệm vụ được, nên lại xin triều đình bổ một Thứ Sử khác. Tống triều bèn bổ nhiệm Thái Thú Nam Hải là Trần Hoàn làm Thứ Sử Giao Châu và Thục Hiên làm Thái Thú Tân Xương và Vũ Bình. Có lẽ vì đã được chính thức bổ nhiệm nên thế lực của Thục Hiên đã khá hơn khiến ông có thể mộ binh bố trí miền biên giới và bất tuân lệnh Tống triều không cho Trần Hoàn vào. Hoàn lại phải đợi lại ở Uất Lâm rồi lâm bệnh và chết ở đó.
Năm 471, Việt Châu được thành lập từ phần đất cắt của Quảng Châu và Giao Châu. Lý do chính của việc này là gían tiếp xác nhận rằng Giao Châu vẫn còn những phần đất thuộc quyền kiểm soát của triều đình, quan trọng nhất là Hợp Phố mà sau đó trở thành thủ phủ của Việt Châu, miền biên thùy mới của giang sơn Trung Quốc.
Vẫn có những toan tính từ bắc triều, mặc dù vô ích, nhằm xác nhận lại quyền kiểm soát Giao Châu như vào năm 473, Thứ Sử Việt Châu là Trần Bá Thiệu được bổ nhiệm sang làm Thứ Sử Giao Châu vì nghĩ rằng ông có khả năng thi hành luật pháp ở đấy nhưng không xong. Năm 477, Trần Lượng Đức, một tướng quân khác, lại được bổ vào chức Thứ Sử Giao Châu nhưng cũng không thành và tin này mãi sáu tháng sau mới được công bố khi ông đã được đổi đi làm Thứ Sử Quảng Châu.
Năm 479, khi nhà Tống sụp đổ và nhà Tề nắm quyền, Lý Thục Hiên vẫn còn kiểm soát được Giao Châu. Năm ấy, vị tân hoàng đế nhà Tề phải ra tuyên cáo về vấn đề Giao Châu như sau:”Giao Châu đứng tách ra khỏi Trung Quốc, không đóng thuế và không thèm giữ liên lạc.
Tuy nhiên nhận thấy Lý Thục Hiên vẫn giữ được thái bình và những biểu tâu của các quan chức dân sự và quân sự trong vùng đều khen ngợi khả năng của ông nên tuyên cáo kết thúc bằng việc phong cho Thục Hiên chính thức làm Thứ Sử Giao Châu.”
Những cố gắng nhằm lấy lại sự thần phục của Giao Châu bằng những lời tuyên cáo đường mật với Thục Hiên cũng chỉ là hoài công vô ích như đã được thấy rõ trong lời trích của một quan chức Tề thời đó là Dương Hùng Châm: “Giao Châu đã đi theo đường lối riêng của nó. Nằm trong vùng ven chân trời và tiếp xúc với bọn man di miền Nam xa lắc, nó sản xuất được nhiều đồ quý hiếm, những đồ lạ và không có gì so sánh được đều được thu thập từ vùng núi và biển. Dân chúng ở đó tin là họ được bảo vệ nhờ vị trí xa xôi hẻo lánh và giao thông khó khăn, và họ luôn sẵn sàng nổi lên làm loạn.”
Một quan chức khác nữa của Tề là Lưu Thiện Minh cũng lại viết rằng: ” Nên gạt Giao Châu ra khỏi bản danh sách những đất thuộc thẩm quyền hoàng triều vì Giao Châu ở xa và không dễ lui tới được.” Ông giải thích rằng trong những năm cuối cùng của nhà Tống, Giao Châu đã bị cai trị một cách khắt khe và do đó càng trở nên bất mãn hay nổi loạn. Lưu Thiện Minh đổ lỗi cho các triểu đại trước đã gây ra tình trạng ấy. Ông thừa nhận sự cai trị yếu kém ở biên giới là nguyên nhân gây ra những rối loạn, bất ổn và tuyên bố rằng triều đình Tề sẽ thi hành một chính sách mới “nhân từ và đạo đức.” Đó là một lối nói uyển ngữ hàm ý “ra tuyên cáo, rồi ngồi chờ xem”, một chính sách theo kiểu tuyên bố miệng vì không có thực lực mà ra. Nói một cách thực dụng, Thiện Minh khẳng định là Giao Châu chỉ tốt cho việc vơ vét làm giàu.
Chính sách “nhân từ và đạo đức” của nhà Tề cũng chẳng hiệu quả gì đối với Giao Châu. Cuối năm 484, một chiếu chỉ nói rằng Giao Châu không chịu nộp thuế, làm lơ trước những mệnh lệnh, lại chặn lấy những đồ triều cống của những nước ngoài. Và quyết định được công bố là phải đánh cái châu bướng bỉnh ấy. Quyết định dứt khoát này chỉ được đưa ra vào một trong những năm mà triều đình Tề phù du tương đối ổn định.
Năm 485, Lưu Khải được Tề bổ nhiệm làm Thứ Sử Giao Châu và được hộ tống bởi một đội quân hùng hậu. Được tin quân Tề sắp kéo đến, Lý Thục Hiên vội vã tìm cách tiếp xúc với triều đình bằng cách sai sứ giả đem thật nhiều đồ cống tiến và hứa sẽ giải tán quân sĩ và nộp thuế thường xuyên nhưng vua Tề giả điếc. Khi Lưu Khải đến gần biên giới, Thục Hiên, để tỏ lòng trung thành, đích thân tìm về kinh đô trong một cố gắng cuối cùng, nhưng vô hiệu.
Gia đình họ Lý duy trì được thế lực ở Giao Châu trong suốt thời kỳ chuyển tiếp từ Tống sang Tề. Họ cũng làm tương tự như họ Lý trước vào năm 380 bằng cách đóng cửa biên giới Giao Châu, nhưng lần này thì khác vì triều đình không còn thiết lập được sự cai trị chính thức ở Giao Châu nữa. Ngược với nhà Lý, Gia đình họ Đỗ một thế kỷ trước đó thì khác, họ cũng có tham vọng nhưng vẫn duy trì ý niệm trung thành với bắc triều.
Khi Lý Trượng Nhân mất, Lý Thục Hiên vẫn đi tìm một sự bổ nhiệm chính thức để yên tâm, không sợ bị đánh phạt. Sự kiện ông chỉ được bổ nhiệm quản lý hai quận thôi không quan trọng, mà việc được thừa nhận chính thức mới là quan trọng để ông có thể đoàn kết được cả Giao Châu lại hầu chống với ba ông Thứ Sử do hoàng triều chính thức bổ nhiệm về sau. Chỉ sau khi cuộc khủng khoảng trong triều đình Trung Quốc chấm dứt hẳn và quân đội được gởi xuống Thục Hiên mới nhận ra rằng ông đang đi vào ngõ cụt. Xét về thái độ của gia đình Lý ở thế kỷ 4 và 5, chúng ta thấy rõ rằng họ là những gia đình địa phương nắm quyền cai trị đầu tiên có ý thức độc lập tự chủ vì thế họ không ngần ngại chống lại hoàng triều và sẵn sàng nổi dậy. Ý thức độc lập này đã được nối tiếp cho tới phần lớn thế kỷ 6.
Sử chép rằng khi Lưu Khải chuẩn bị xuống Giao Châu, ông cho đi tìm Hoàn Thâm, con của Hoàn Hưng, là cựu Thứ Sử Giao Châu và bảo Hoàn Thâm theo ông. Hoàn Thâm nổi tiếng là một danh sĩ nhưng qua đời ngay khi vừa tới Giao Châu. Tuy nhiên sự tham gia của ông vào đại sự của Lưu Khải nói lên rằng danh sĩ cũng như binh sĩ đều đóng vai trò quan trọng trong chính sách của bắc triều đối với Giao Châu. Điều này rất đúng khi xét đến người kế vị Lưu Khải là Phòng Pháp Thừa. Là một người ốm yếu, Phòng Pháp Thừa chỉ thích đọc sách chứ không ưa chính trị. Viên Trưởng Sử của ông là Phúc Đặng Chi đã dễ dàng qua mặt Pháp Thừa để bổ nhiệm vây cánh của ông ta vào các chức vị quân sự và dân sự quan trọng. Đến khi được một viên thư lại cấp dưới báo cáo rõ ràng sự việc thì Pháp Thừa nổi giận truyền bắt Đặng Chi hạ ngục. Nhưng mười ngày sau, Đặng Chi được trả tự do bằng cách hối lộ một món tiền lớn cho người em rể của Pháp Thừa. Thoát ngục Đặng Chi bèn tụ tập quân sĩ nổi loạn và quản chế Pháp Thừa. Trong thời gian Pháp Thừa bị quản chế Đặng Chi bảo hắn:” Ông bệnh, không nên hoạt động.” Khi thấy Pháp Thừa than phiền không có việc gì làm, và đòi đọc sách, Đặng Chi không cho và nói :” Ông nên nghỉ ngơi tịnh dưỡng để tránh khỏi bị đau thêm.” Thế rồi Đặng Chi tuyên bố là Phòng Pháp Thừa bị bệnh tâm thần nên không làm việc được. Năm 490, triều đình phong Đặng Chi làm Thứ Sử và gọi Pháp Thừa về triều, nhưng Pháp Thừa chết ở dọc đường.
Sử sách không nói rõ Đặng Chi là một thủ lãnh sinh quán địa phương hay là một người miền Bắc di dân xuống. Nhưng dựa trên những chứng cứ khác, có lẽ ông là người địa phương vì ông giữ chức Trưởng Sử trước. Giống như Cố Thọ, ngày xưa ở thế kỷ thứ 4, muốn nắm quyền Giao Châu, hành động của ông đầu tiên là giết chết viên Trưởng Sử Hồ Triệu. Trong hành chánh Trung Quốc, ở cấp địa phương, Trưởng Sử chỉ dưới Thứ Sử về quyền hành, và trên thực tế điều hành tất cả mọi công việc hàng ngày. Ở Giao Châu, nơi mà quyền hành của triều đình đặt vào một xã hội phi Trung Quốc, Trưởng Sử rõ ràng là cấp lãnh đạo có tăm tiếng đại diện cho các quyền lợi địa phương để thi hành chính sách triều đình. Đặng Chi có thể điều động những người thuộc phe mình vào các chức vị cao cấp ngay trước mũi một ông Thứ Sử lơ là như Pháp Thừa. Và khi ông Thứ Sử có phản ứng thì Trưởng Sử lại có cách mua chuộc, hối lộ, để ra khỏi khám đường và mộ quân. Nếu ông là một người Bắc được bổ nhiệm đến, khó mà ông có thể làm được những việc ấy.
Năm 494, Trung Quốc lại rơi vào cảnh nội chiến và ba vị vua liên tiếp đổi ngôi chỉ trong một thời gian một năm. Cùng với ba vị vua là việc ba lần bổ nhiệm Thứ Sử Giao Châu được ghi lại năm ấy, chỉ là trên giấy tờ để tưởng thưởng cho công lao của những người đã tranh đấu cho ngai vàng, nhưng chả có vị nào đến nhiệm sở cả. Có một lần dưới triều vua Ming (494-98), Lý Khai, vốn thuộc một gia đình địa phương, được lên thay thế Đặng Chi làm Thứ Sử. Sự suy yếu của triều đình ngày càng tăng đã khuyến khích các gia đình địa phương có thế lực đứng lên nắm lấy vai trò chính trị ngày một tích cực hơn. Câu hỏi khó khăn nhất cho lớp cầm quyền Việt vào thời đó là có nên tiếp tục thừa nhận quyền hành của bắc triều hay thôi. Những người nào dám làm ngơ không chấp nhận bắc triều sẽ vấp phải vấn đề chính thống, tức là lấy quyền gì mà dám thách thức bắc phương, và lấy tư cách gì mà kêu gọi sự ủng hộ của dân chúng địa phương. Không trả lời được những câu hỏi đó, những lãnh tụ địa phương có đầu óc ly khai sẽ phải đối mặt với những địch thủ sẵn sàng dùng vương quyền phương Bắc như một tấm bình phong cho tham vọng riêng của họ.
Cho nên khi Lý Khai không chịu thừa nhận vương triều nhà Lương mới lên năm 502, Trưởng Sử Lý Tắc, vào năm 505, đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội này bằng cách huy động quân bản bộ của gia đình giết Lý Khai nhân danh nhà Lương; và Lương triều lập tức thừa nhận ngay cho ông làm Thứ Sử Giao Châu.
Tuy nhiên, sự xung đột phe phái vẫn tiếp diễn. Và 11 năm sau, năm 516, Lý Tắc lại chém đầu một lãnh tụ phe Lý Khai cũ nổi lên làm phản và thành tích ấy lại được Lương triều công nhận. Lý Tắc giữ được Giao Châu bao lâu không biết, nhưng rõ ràng ông tao cơ hội cho bắc triều có mặt tại Giao Châu trực tiếp hơn. Vì thế đến năm 523, nhà Lương đã thi hành các cải cách về tổ chức một cách toàn diện trong đó có Giao Châu. Việc này đưa chúng ta đến những biến cố ở phần sau đây.
Suốt các thời kỳ được nhắc đến trong chương 3 này, Trung Quốc đã đô hộ Việt Nam vừa không thường xuyên vừa không chính thức. Sự đô hộ ấy đến và đi như nước triều lên xuống vì dân chúng Giao Châu ở nơi biên cương xa xôi chỉ chực chờ nổi dậy tùy theo thế mạnh yếu của bắc triều. Ngay cả khi ở cực điểm của quyền lực, bắc triều cũng chẳng đạt được gì khác hơn là các thoả hiệp hay dung hoà có lợi cho cả đôi bên: bắc triều và thế lực địa phương ở Giao Châu. Cuộc kiểm tra dân số bất thành cùng với việc thất bại trong việc thu thuế ở Giao Châu của bắc triều sau khi nhà Hán sụp đổ đã là những bằng chứng cụ thể cho nhận định trên.
Nhắc lại từ lúc Tần Thủy Hoàng để ý đến miền Nam cho đến sau này, ngoài mục đích chiến lược liên quan đến an ninh biên giới, sự thèm khát chiếm đoạt những đồ xa xỉ quý hiếm đầy rẫy ở Giao Châu đã là động lực chính khiến Trung Quốc luôn dòm ngó Việt Nam. Như sử gia Tiết Tống và nhiều người khác đã viết, ở Giao Châu khó thu thuế, nhưng thuế không phải là lý do để quan tâm nhiều, mà chính là những đồ hàng quý gía và những kho báu sẵn sàng để vơ vét. Do đó chẳng ngạc nhiên khi ngày nay chúng ta biết rất ít về vấn đề thuế má mà bắc triều đã áp đặt lên Giao Châu ngoại trừ một chiếu chỉ duy nhất, ban hành năm 102, miễn ba loại thuế cho huyện Tường Lâm trong hai năm liên tiếp sau cuộc nổi dậy bất thành ở đó. Chúng ta có thể giả định rằng ba sắc thuế mà huyện Tường Lâm được miễn nộp ấy đã được thi hành ở khắp Giao Chỉ bộ vì huyện Tường Lâm, nơi mà ít lâu sau đó nước Lâm Ấp ra đời, là tiền đồn xa nhất của nhà Hán về phương Nam vào lúc đó.
Loại thuế đầu tiên là “thuế hộ khẩu” thay thế cho thuế lao động được áp đặt ở những vùng biên giới nơi mà việc xây dựng các công trình phục vụ mục tiêu phòng thủ chiến lược của bắc triều. Những gia đình giầu có thay vì phải đi lao động thì có thể đóng tiền. Một loại thuế khác là “thuế cắt cỏ” nhằm phục vụ việc khai hoang những vùng đất mới để trồng trọt. Thuế thứ ba là “thuế nhà vườn.” Ngoài ba loại thuế trên không có thêm tài liệu nào nói về các loại thuế cắt cổ khác mà nhà Hán đã áp đặt lên Giao Châu khiến dẫn đến việc nổi loạn vào năm 184.
Nhà Hán suy yếu luôn đi đôi với việc không thể thực thi chính sách thuế má ở Giao Châu. Sĩ Nhiếp đã từng gửi hàng đống phẩm vật sang triều cống nhà Hán và nhà Ngô để thay cho việc phải nộp thuế cho bắc triều. Đối với Ngô triều thì, thay vì thu thuế, họ đã trắng trợn tịch thu các đồ quí hiếm, đòi dâng nộp 30 con công, và bắt trên một ngàn các thợ lành nghề đem về Nam Kinh làm lao động cưỡng bách. Hình thức bóc lột trắng trợn này là một trong những thái độ ngạo mạn của nhà Ngô đã tạo cơ hội cho nhà Tấn lên tiếm quyền sau này.
Khác với nhà Ngô, nhà Tấn can thiệp vào nội tình Giao Châu với chính sách thuế má có vẻ hợp lý hơn. Vào năm 271 nhà Tấn ra lệnh miễn “thuế y phục” ở Giao Châu trong vòng một năm nhưng thực ra việc này chỉ là bề ngoài vì lúc đó Tấn triều còn đang bận bịu ở phương bắc nên chưa bao giờ thực thi được việc thu thuế. Mục đích chính của sắc chỉ miễn thuế này chỉ là để Tấn triều chứng tỏ quyền uy cũng như làm yên lòng dân Giao Châu vì cách hành xử ngang ngược của nhà Ngô trước đó.
“Thuế y phục” rất đặc biệt ở chỗ là nó được áp đặt nhiều hay ít tùy theo đối tượng bị đánh thuế và ý muốn chủ quan của người thu thuế. Thuế này cũng còn tùy theo hành trình xa gần đến kinh đô Tấn và các trung tâm hành chánh địa phương nữa. Về phần các nhà nông sống ở vùng đất trũng ở Giao Châu thì bị bắt đóng thuế theo tỉ lệ “phân định biên giới” được ấn định bằng 1/3 tỉ lệ ở chính quốc. Lụa và bông vải thì phải đóng theo số lượng được ấn định cho mỗi hộ; hộ nào chỉ có đàn bà và trẻ em trai nhỏ thì chỉ phải đóng một nửa. Ngoài thuế này ra, lại còn có hai tỉ gía “thuế man di” dành cho những người ở các khu vực hẻo lánh xa xôi tính theo khoảng cách xa gần từ thủ phủ của Châu tính đi.
Không biết sau khi nhà Ngô đổ thì nhà Tấn có tiếp tục thu “thuế y phục” này không nhưng chính vì những thứ thuế thương mại cắt cổ được ghi trong sử liệu đã là nguyên nhân dẫn đến các cuộc bắc tiến của Lâm Ấp ở giữa thế kỷ 4. Những loại thuế má cắt cổ kể trên bắt nguồn từ lề thói tham ô hối lộ có hệ thống của các quan chức bắc triều nhằm mục đích kiểm soát những ngôi chợ quốc tế béo bở dọc bờ biển Việt Nam vì đó là nguồn quan trọng để họ vơ vét và làm giàu nhanh chóng.
Rất có thể đã có một chính sách thuế đất đặc biệt đối với Giao Châu nhưng không thấy ghi trong sử liệu. Theo nhà sử học Katakura Minoru, mặc dù đất đai lúc đó được phân chia và đánh thuế ở phương bắc có hệ thống, thuế đất đã không được áp dụng ở Giao Châu vì 3 lý do: một là các triều vua có trước nhà Đường, không đủ mạnh để thi hành các chính sách về đất đai ở Giao Châu theo kiểu của họ; hai là hệ thống đất đai của Trung Quốc được căn cứ trên quyền tư hữu và không thể áp dụng rập khuôn ở Giao Châu, nơi mà quyền sở hữu công còn mạnh; ba là, cách thức phân chia đất ở Giao Châu cũng khác phương bắc vì việc chia đất, theo truyền thống ở Việt Nam, vẫn căn cứ theo hình thức làng xã. Ông Katakura có thể đã quá nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vấn đề sở hữu cộng đồng mà quên đi một điểm quan trọng khác là những bất động sản của các gia đình có thế lực ở địa phương Giao Châu cũng vượt ra ngoài khả năng thu thuế của bắc triều.
Trên lý thuyết, thuế được áp dụng theo ba loại tùy thuộc vào khoảng cách của vùng đất chịu nộp thuế đối với các trung tâm hành chánh. Theo ông Katakura, người Trung Quốc đánh thuế đất ở Giao Châu không theo một nguyên tắc hay luật lệ nhất định nào cả, mà chỉ là theo một sự tính toán khôn khéo để làm sao thu thuế được nhiều trong những trường hợp đặc biệt – nghĩa là tùy thuộc vào tình hình và thái độ phản ứng ở địa phương.
Chính sách của bắc triều và thực tế quyền bính ở Giao Châu luôn là một thách đố cho các triều đại Trung Quốc, nhất là khi những biến cố ở Giao Châu vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các quan chức bắc triều. Nói cách khác, khoảng trống giữa lý thuyết và thực tế được lấp đi bằng số lượng “của cải” nhiều ít “tùy cơ ứng biến” lấy được ở các địa phương bướng bỉnh không thể Hán hóa được ấy. Luôn bực bội vì các quan hệ không thuận thảo với Giao Châu, các quan chức Tấn triều thấy cần phải đẻ ra ra một thứ luật mới để chứng tỏ quyền uy của họ cái gọi là luật “ân xá đặc biệt.”
Cụm từ “ân xá đặc biệt” này lần đầu tiên được dùng bởi các tướng và các quan chức Tấn khi họ đến Giao Châu vào năm 269. Trên lý thuyết, luật này có nghĩa là sự nới rộng luật pháp của bắc triều đến Giao Châu: mọi hành vi “ngang bướng” nếu lần đầu vi phạm thì được tha thứ; lần sau, phải sửa trị theo luật pháp bắc triều. Huỵch toẹt hơn, đó là việc Tấn triều chính thức công nhận giới cầm quyền địa phương để hòng đánh đổi cho việc chính thức hóa việc cai trị của họ ở Giao Châu.
Cuối thế kỷ 5 và đầu thế kỷ 6, các triều vua suy yếu Trung Quốc cứ đơn phương lôi ra áp dụng các “ân xá đặc biệt” này để công nhận các quyền lãnh đạo của các thế lực địa phương ở Giao Châu hòng giữ được quyền hành ngoài mặt mà bắc triều đã “tự phong” cho họ như: vua Tề ban hành ân xá đặc biệt năm 479 để thừa nhận quyền kiểm soát Giao Châu của Lý Thục Hiên; vua Lương ban hành ân xá đặc biệt năm 505 để thừa nhận việc Lý Tắc chèn ép Lý Khai và năm 516 lại ân xá đặc biệt nữa để thừa nhận Lý Tắc đánh bại được sự thách đố của phe Lý Khai.
Những “ân xá đặc biệt” trên rõ ràng cho thấy là ngay cả trong lãnh vực pháp lý bắc triều cũng phải tìm cách tự điều chỉnh cho thích ứng với tình trạng đặc biệt của Giao Châu nơi mà chẳng tồn tại một nền hành chánh thường trực của Trung Quốc, cả về mặt lý huyết cũng như thực tế. Giao Châu ở dưới quyền hoàng triều Trung Quốc đã chẳng có một quy tắc pháp chế gì thì chớ, mà lại còn khiến họ phải có sự sửa đổi tùy theo từng thời kỳ nữa. Điều này được chứng minh từ năm 494 khi bắc triều đã phải sửa đổi quy chế pháp lý của chức Thứ Sử Giao Châu sang một chức vụ mang tính danh dự trong các chiếu chỉ bổ nhiệm của họ.
Sự bất lực trong quyền hành của bắc triều tại Giao Châu vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của sự lớn mạnh của các thế lực địa phương Giao Châu trên con đường tiến tới tự trị và độc lập. Là hậu duệ của các Lạc hầu xưa, những gia đình địa chủ có thế lực ở Giao Châu đã kiểm soát được lợi tức từ những trang trại trù phú ở Bắc Việt Nam. Việc bắc triều không thu được thuế từ những trang trại kể trên một phần là do các gia đình địa phương đã khéo léo ứng xử trong việc bảo vệ nguồn thu nhập của họ.
Lớp địa chủ địa phương ở Giao Châu đã phải tìm mọi cách để đáp ứng tùy theo thời cuộc thăng trầm của các triều đại Trung Quốc. Các thủ lĩnh địa phương này không những tìm cách đứng ngoài tầm ảnh hưởng của văn minh Trung Quốc mà còn, vì vị trí địa lý đặc biệt, củng cố các nét đặc thù về xã hội và văn hoá Việt Nam cộng với việc ngày càng mọc rễ sâu từ các cuộc hôn nhân dị chủng qua nhiều thế hệ giữa Hán và Việt.
Cũng giống như Nhật Bản, Hàn Quốc và những nước khác ở quanh Trung Quốc, Việt Nam tiếp thu văn minh Trung Quốc mà không đánh mất các đặc tính của mình. Mặc dù dưới con mắt của Trung Quốc, những nước kể trên là thuộc bọn “man di mọi rợ” nhưng những người Trung Quốc di cư chỉ cần sống ở Việt Nam một thế hệ hay hơn, dù bên ngoài mặt còn cố giữ vẻ mặt trung thành với những lý tưởng Trung Quốc, nhưng bên trong họ đã bị ảnh hưởng rất nhiều những gía trị văn hóa và lề lối Việt.
Xã hội Việt Nam có nhiều tương phản với xã hội Trung Quốc. Chỉ xét về tục “em trai lấy chị dâu” tồn tại mãi đến thế kỷ 3 và những bằng chứng khác cho thấy người phụ nữ được coi trọng trong xã hội Việt Nam. Bộ luật của triều Lê (thế kỷ 15 đến 18) có nói đến những quyền của người phụ nữ trong hôn nhân, và cả quyền thừa kế, điều mà luật Trung Quốc không bao giờ cho phép. Vai trò của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam lúc nào cũng quan trọng, và quyền tự do tương đối mà người phụ nữ được hưởng đã cải thiện rất nhiều những áp lực theo truyền thống phụ hệ của Trung Quốc. Những người Trung quốc di cư chắc chắn bị ảnh hưởng của văn hoá Việt cũng nhiều bằng những điều họ có thể ảnh hưởng ngược lại, nhất là sau nhiều thế hệ họ lưu trú và có hôn nhân qua lại với người Việt.
Điều đặc biệt là phần nhiều những người Trung Quốc di cư và sau đó ở hẳn lại Việt Nam trong suốt thời gian này là những người thuộc giới thượng lưu. Họ không đến Giao Châu như là những người di cư tầm thường tìm đến một nơi ở mới. Họ đến, mang theo sách vở, nền giáo dục, được triều đình bổ nhiệm, và đôi khi họ lại tự cho là có bổn phận đem văn minh đến cho một vùng biên cương dốt nát. Họ khác với đám quan chức bắc triều đến Việt Nam với ý nghĩ duy nhất là làm giàu mau lẹ rồi trở về Bắc. Gia đình họ Sĩ, họ Đào và họ Đỗ đều là những người trung thành với bắc triều, nhưng đồng thời cũng là những người mọc rễ rất sâu trong xã hội Việt Nam.
Rất gần gũi với người Việt là những người như Lương Thạc, Lý Tiên, Lý Thượng Nhân, Lý Thục Hiên, Phúc Đặng Chi và Lý Khai. Khi nào có thể được là họ sẵn sàng làm ngơ trước thế lực hoàng triều cũ. Qua những cuộc hôn nhân hỗn hợp và sự lưu trú lâu dài, lớp cầm quyền địa phương một mặt hoà mình vào xã hội Việt Nam, một mặt lại dính dáng với thế giới vua chúa bắc phương qua học vấn và những tham vọng của họ.
Khi nhà Hán ở phương bắc sụp đổ, nhiều đại gia đình ở Giao Châu đã nổi lên nắm giữ các vai trò chính trị để khỏi bị xô đẩy vào vòng hỗn loạn bắc triều. Điển hình là gia đình Sĩ Nhiếp người đã đem lại thái bình cho miền Nam bao lâu mà những tranh chấp không giải quyết được ở miền Bắc còn cho phép ông duy trì được hệ thống quyền lực căn bản ở địa phương. Nhưng khi nhà Ngô mạnh lên và thách thức gia đình họ Sĩ, mâu thuẫn lại bùng nổ giữa quyền hành của triều đình với sự an bình tự trị của địa phương. Sự bất ổn do các chính sách bóc lột của Ngô triều và hậu quả do các sự can thiệp của nhà Tấn đều bắt nguồn từ những sự rối ren thời hậu Hán mà rốt cuộc tác động xuống Giao Châu dưới hình thức những yêu sách trái ngược của bắc triều.
Thế kỷ 4 và 5 cho thấy sự đơm hoa kết trái của một chế độ chính trị thích ứng và mang nét đặc thù của xã hội Việt Nam hơn. Ảnh hưởng của các rối loạn sau sự sụp đổ của Bắc Trung Quốc không ảnh hưởng nhiều xuống Giao Châu vì đường xá xa xôi cũng như vì sức mạnh bẩm sinh và tiềm tàng của xã hội Việt. Sự nổi dậy lần đầu tiên của Lương Thạc chứng tỏ sức sống mãnh liệt và khả năng thích ứng của xã hội Việt trước những đổi thay trên đất nước Trung Quốc.
Tuy nhiên kỷ nguyên mới, Lục Triều, đã đem lại nhiều thay đổi ở Giao Châu, nhất là dưới áp lực của các trận chiến tranh với Lâm Ấp. Những gia đình di cư từ phương bắc đã mọc rễ ở Giao Châu, trong số đó nổi tiếng có gia đình họ Đỗ, qua năm thế hệ, đã cai trị Giao Châu suốt 50 năm tới khi nhà Tấn suy tàn. Họ Đỗ đáng chú ý vì lòng trung thành với triều đình Bắc, vì tài cai trị và sự liêm khiết đối với dân chúng. Thời họ Đỗ cũng là thời gian lớp cầm quyền địa phương Giao Châu được tạo lập, củng cố và ngày càng chứng tỏ khả năng tự túc tự cường của mình.
Việc nhà Tống đánh bại quân Lâm Ấp vào năm 446, mặc dù ngắn ngủi, đã tái lập được vai trò cai trị của nhà Tống ở nhiều nơi, ngoại trừ Giao Châu vì sức mạnh của lớp cầm quyền địa phương ở Giao Châu bấy giờ đã ngang bằng với sức ép của nền hành chánh bắc triều. Sau đó, Giao Châu tiến tới tự trị vì các lãnh đạo địa phương có thế lực đã nối tiếp nhau duy trì và củng cố cho quan niệm địa phương lãnh đạo.
Chính vì lý do ấy, biên thùy phía bắc của Giao Châu đã được hiệu chỉnh thành ranh giới hiện đại giữa Trung Quốc và Việt Nam. Lằn ranh địa lý này cũng là lằn ranh phân cách hệ thống chính trị của riêng Việt Nam với hệ thống của bắc triều. Từ đó người Việt Nam không còn là một bộ phận của cái ranh giới thẩm quyền vô hình dưới thới Hán và Ngô nữa, cái thẩm quyền mà chỉ căn cứ vào quan niệm của bắc triều hơn là vào nền văn hoá bản xứ. Khi tách Hợp Phố ra và thành lập Việt Châu vào cuối thế kỷ 5, Trung Quốc đã nhận thức rằng lãnh thổ Việt Nam ở xa quá và phi Trung Quốc quá nên không thể cai trị được, và người Việt đã được chính thức công nhận về mặt hành chánh trong địa giới của chính họ.
Mặt khác, các cuộc chiến tranh với Lâm Ấp về sau này lại ấn định biên giới phía Nam là dãy núi Hoành Sơn. Đòi hỏi cương quyết nhất của bắc triều là bắt Lâm Ấp phải luôn giữ khoảng cách và sẽ không tha thứ cho bất kỳ sự đụng chạm nào đến lằn ranh văn hoá. Yêu cầu này đã gây ảnh hưởng rất nhiều đến việc hình thành các nét đặc thù của Việt Nam. Người Việt Nam một mặt phải tập sống trong tình trạng “bị ép thuộc về đế quốc phương Bắc, nhưng lại thuộc văn hoá phương Nam,” một mặt tìm cách dò chừng mức độ kiếm soát của bắc triều đối với Giao Châu. Những mâu thuẫn và tương phản về văn hoá và chính trị do tâm thế và vịa trí địa lý của người Việt đối với các thế lực phương bắc đã hun đúc cho dân tộc Việt Nam một bản năng trường tồn trong việc vận dụng sức mạnh của họ.
Chùa Khai Quốc được xây dựng từ thời Lý Nam Đế ( Lý Bí) nay đổi tên thành Chùa Trấn Quốc, nằm trên bán đảo nhỏ của hồ Tây.
NHÀ LƯƠNG XUỐNG MIỀN NAM
Vào thế kỷ thứ 6, do việc kiểm soát lỏng lẻo của nhà Lương, hoài bão độc lập tự chủ của Việt Nam lại được trải nghiệm qua các động thái nhằm định hình tư thế chính trị thấm đậm màu sắc bản xứ của họ. Ngay khi Lương triều tìm cách tạo áp lực chính trị từ từ lên miền Nam thì họ đã vấp phải cuộc nổi dậy của Lý Bí vào những năm 540. Mặc dầu bị Trần Bá Tiên đánh bại nhưng phong trào độc lập do Lý Bí khởi xướng vẫn tiếp tục phát triển khi Trần Bá Tiên phải quay về phương bắc để lập triều đại nhà Trần của Trung Quốc và các vùng miền Nam lại được cai trị bởi các thế lực địa phương. Mãi đến cuối thế kỷ 6, khi nhà Tùy lên thay nhà Trần, bắc triều lại mở rộng quyền lực của họ xuống miền Nam.
Giữ ngôi được một thời gian dài (502-549), Lương Vũ Đế của Trung Quốc, nổi tiếng là một vị vua sùng đạo Phật và ưa thích văn chương, đã giao phần lớn công việc triều chính cho các quan cận thần. Vào lúc đó vấn đề chính yếu mà nhà Lương phải đối phó ở miền Nam là sự vô hiệu quả của các thứ sử vì sau khi được triều đình bổ nhiệm, các viên thứ sử này đã thông đồng với các gia đình có thế lực ở miền Nam nơi mà tư thế chính trị địa phương ngày một mạnh thêm bởi nền kinh tế phồn thịnh qua các quan hệ thương mại với các xứ ở vùng biển Nam Hải.
Năm 522, Lương triều ra lệnh đúc tiền mới vì thấy rằng ở Châu Quảng và Châu Giao, vàng và bạc vẫn được dùng làm bản vị trong mậu dịch thay vì dùng đồng tiền chính thức của triều đình đang lưu hành ở tất cả những nơi khác. Hơn 20 năm sau đó lại có lệnh đúc tiền mới khác nhưng tình trạng ấy vẫn không thay đổi và hai châu Quảng và Giao vẫn cứ tiếp tục sử dụng vàng và bạc trong mậu dịch. Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên nếu xét theo sự phân cách về địa lý của miền Nam so với những nơi khác. Tính cho đúng Quảng Châu và Giao Châu đều là đất ở ” bên kia những ngọn đèo” do đó kinh tế của hai châu này, theo thiên nhiên, đúng ra là một phần thuộc thế giới biển ở Đông Nam Á.
Vừa mưu toan đồng nhất hoá nền kinh tế của toàn vùng đô hộ bằng cách ban hành những đạo luật mới về tiền tệ, Lương triều còn tìm cách kiểm soát trực tiếp hơn nữa những địa phương xa xôi ở miền Nam bằng cách tăng thêm nhân số các thứ sử trấn nhiệm. Làm như thế thì các thứ sử có thể bị kém hiệu năng so với thời xưa; nhưng Lương triều cho rằng nếu tăng con số các thứ sử lên họ có thể duy trì được việc kiểm soát các miền hẻo lánh. Vì lý do đó Lương triều tìm mọi cách để dần dần nới rộng quyền lực xuống phương Nam và những châu cũ lại bị chia nhỏ hơn nữa để lập thêm những tỉnh mới. Nhìn bề ngoài, hệ thống cai trị mới có vẻ đã làm gia tăng được sự kiểm soát của Lương triều ở các địa phương nhỏ ấy, nhưng thật ra điều này giản dị chỉ là sự chính thức thừa nhận rằng có những trung tâm quyền lực mới mọc lên tại các địa phương.
Đầu năm 507, Quế Châu được thành lập ở phía Tây Quảng Châu. Nhưng phải đợi đến năm 523 thì việc cải tổ bằng cách chia nhỏ các châu mới thức sự rõ nét ở miền Nam với việc Quảng Châu lại bị chia ra nữa để lập thêm 4 châu mới; còn quận Cửu Chân và Cửu Đức ở phía Nam, lại được tách ra để lập châu Ái. Có ít nhất là 13 châu mới đã được thành lập ở những nơi mà trước kia là Quảng Châu và Việt Châu trong mưu toan củng cố hệ thống chính trị của Lương triều. Năm 535, châu Hoàng lại được thành lập dọc theo bờ biển hoang vu tại phía Bắc đồng bằng sông Hồng. Quá về phía Nam, châu Đức bị tách ra từ quận Cửu Đức cũ, và thêm 2 châu nữa là châu Lý và châu Minh được thành lập ở mãi xa gần vùng biên giới với Lâm Ấp.
Mục đích của Lương triều khi lập những châu mới ở những vùng mà học chưa kiểm soát được, trước là gían tiếp xác nhận chủ quyền cai trị những vùng đó, và kế đến là khuyến khích dân địa phương tuân theo luật pháp bắc triều chứ không dựa trên căn bản về diện tích và dân số nếu ta đem so sánh Giao Châu với Ái Châu hoặc Đức Châu. Còn châu Hoàng và hai châu Lý và Minh, thì không cần bàn đến vì rõ ràng các châu này không thể coi như là các đơn vị có tầm quan trọng ngang nhau.
Quyền hành ở hững châu có tính cách chiến lược nhất được giao cho những người trong hoàng tộc bắc triều. Năm 541, hai người cháu của Lương Vũ Đế được phong làm thứ sử hai châu nòng cốt là Giao và Quảng. Những châu kém quan trọng được giao cho những người ở cấp thấp hơn, kể cả những người thân thuộc hoặc vây cách của các gia đình thế lực ở địa phương. Hậu quả của chính sách này là sự xung đột, tranh chấp về quyền lợi mà trước đây thường xảy ra giữa các gia đình địa phương với triều đình thì nay trở thành một định chế với sự thừa nhận những lãnh đạo địa phương là thứ sử các châu nhỏ. Vũ đài chính trị xưa cũ khi một ông thứ sử do bắc triều đình bổ nhiệm phải đối đầu với một hay nhiều gia đình địa phương có thế lực nay biến thành sự cạnh tranh giữa các ông thứ sử lớn và nhỏ.
Một mục đích nữa của việc thành lập thêm nhiều châu nhỏ đó là làm dân chúng quên đi các mong mỏi giành độc lập cùng với việc khuyến khích họ đi tìm các địa vị và bổng lộc trong vòng trật tự tại Lương triều. Nhưng ngặt một nỗi là bắc triều không có đủ các công việc và chức tước để thoả mãn tất cả những tham vọng đang lên của các địa phương miền Nam. Đã không lấp được khoảng trống giữa triều đình và địa phương thì chớ, phương thức mới này còn làm gia tăng ý tưởng nổi loạn. Khi quen thuộc với thể chế bắc triều nhiều rồi, những lãnh đạo địa phương lại cảm thấy không có gì đáng phải sợ hãi nữa và lại còn có ý muốn thay cái đang có bằng cái khác của chính họ.
Để tránh nguy hiểm này, các khu vực quân sự đặc biệt ở miền Nam được thành lập và được giao cho các vị tướng bắc triều để thực thi luật pháp triều đình. Trước nhất là ông thứ sử của quận quan trọng nhất nằm trong địa khu nào thì kiêm luôn chức vụ quân sự ở địa khu ấy. Một thí dụ là vào năm 509, thứ sử Quảng Châu kiêm luôn quyền cai quản quân sự bốn châu thuộc miền Nam là Quảng, Quế, Việt, và Giao. Nhưng về sau, việc chỉ huy các khu quân sự này lại được đổi thành các bộ chỉ huy riêng rẽ do các tướng giỏi chỉ huy.
Những tướng chỉ huy các khu quân sự này thường là tay chân bộ hạ của các vị hoàng thân được bổ vào chức vụ thứ sử các châu quan trọng nhất. Trong các vị tướng chỉ huy đó có Trần Bá Tiên đến miền Nam cùng với Tiêu Ánh là cháu của Luơng Vũ Đế. Tiêu Ánh trở thành Thứ Sử Quảng Châu và Trần Bá Tiên thành quan Đốc Hộ cai trị vùng sông Tích và đặt bản doanh ở Quảng Tây ngày nay. Trần Bá Tiên là một tướng giỏi và đầy tham vọng. Từ những công trạng lập được ở miền Nam mà sau này Trần Bá Tiên lập ra triều nhà Trần, triều đại cuối cùng trong số các triều đại của Trung Quốc đóng đô ở Hoa Nam.
LÝ BÍ
Chân Dung Lý Bí (Lý Nam Đế)
Lý Tắc, người nắm quyền kiểm soát Giao Châu năm 505 và sau đó đánh bại các đối thủ của ông vào năm 516, đã duy trì được quan hệ chặt chẽ và hữu nghị với bắc triều. Vào thời gian đó có nhiều người thuộc các gia đình địa phương danh gía ở miền Nam được khuyến khích tiến thân bằng cách xin vào làm việc cho Lương triều ở miền Bắc. Trong những người này có Tinh Thiệu là người văn hay chữ tốt nhưng Thái Tông, viên quan lo về nhân sự Lương triều, lại không giao Tinh Thiệu chức vụ mà ông xin, viện lẽ trong gia đình Thiệu chưa có ai là danh sĩ nổi tiếng! Thay vào đó Thái Tôn cho ông giữ chân giám sát một trong những cổng ra vào Hoàng Thành. Tinh Thiệu cho rằng mình bị coi thường nên bỏ về Giao Châu cùng với một người cùng cảnh ngộ là Lý Bí vào khoảng năm 523 khi mà các châu mới đang được thành lập ở miền Nam.
Tổ tiên Lý Bí thuộc trong số những người Trung Quốc di cư tị nạn xuống miền Nam để trốn những rối ren bất ổn do loạn Vương Mãng (9-23 SCN). Đến thế kỷ thứ 6, thì họ Lý đến định cư ở bờ Bắc sông Hồng, tại Vũ Bình gần Tân Xương, dưới chân núi Tam Đảo. Đây là vùng chiến lược nằm gần vùng biên giới đất cao của đồng bằng sông Hồng. Từ nơi này họ Lý đã củng cố địa vị và trong số họ đã có người lên tới chức “Phụ Tá Quân Sự”. Cũng giống như Tinh Thiệu, lúc bắt đầu sự nghiệp, Lý Bí lên miền Bắc và được cho giữ một chức vụ ở triều đình, nhưng vẫn “không được thoả mãn ước vọng”. Thế là Lý Bí trở về Giao Châu và được bổ làm Giám Quan ở Cửu Châu để rồi sau đó ông theo các vị anh hùng của các châu khác nổi dậy đòi quyền độc lập từ tay bắc triều.
Những ước vọng của Lý Bí lúc đó được nhiều người hậu thuẫn và có nhiều ưu thế bởi tình hình chính trị rối ren ở Giao Châu. Thứ Sử Giao Châu lúc ấy là là Tiêu Tư, cháu của Lương Vũ Đế, bị dân chúng địa phương rất oán ghét vì những hành động vơ vét, bóc lột và tàn bạo của y. Năm 541, Lý Bí được Triệu Túc, một trong số những thủ lãnh ở Chu Diên, khâm phục tài đức của ông nên đem quân bản bộ về theo. Biết được chuyện này, Tiêu Tư vội vã tìm cách hối lộ Triệu Túc để có đường chạy lên Quảng Châu, nơi cháu ông là Tiêu Ánh đang làm Thứ Sử.
Nhắc lại vùng Chu Diên, thời nhà Hán, nằm ở khoảng giữa sông Đáy và sông Hồng nơi mà hai sông này phân nhánh. Tương truyền Thi Sách, chồng của Bà Trưng cũng quê ở đó. Qua bao thế kỷ cái tên Chu Diên dường như cứ dần xuôi mãi xuống vùng hạ lưu và đến thế kỷ 6, thì nó đã đến gần bờ biển, nơi mà sông Hồng gặp thủy triều lên xuống. Phần lớn đất Chu Diên là đầm lầy, không trồng trọt gì được vì hệ thống đê điều chưa được đắp xuống đến đấy. Tuy nhiên những tập tục từ thời Bà Trưng, mặc dù chỉ còn là những ký ức không rõ nét, nhưng vẫn tiềm tàng trong số những huyện được lập ở quá về phía Bắc. Do đó các thủ lãnh địa phương ở Chu Diên vẫn có thể khơi dậy trong lòng toàn thể dân chúng của họ một ý chí quật khởi theo tinh thần Hai Bà Trưng khi cần đến.
Sử Trung Quốc đã không nhắc đến Triệu Túc mà chỉ ghi lại các sự việc liên quan đến Lý Bí và cố vấn của ông là Tinh Thiệu, vì xét về mặt chính trị người Trung Quốc muốn chứng tỏ rằng đây là hai quan chức của bắc triều đình đứng lên nổi loạn chứ không phải dân địa phương. Nhưng uy quyền của Triệu Túc rõ ràng được căn cứ trên tài học của ông điều mà vượt ra ngoài tầm nhận thức của Trung Quốc. Theo sử liệu Việt Nam, việc Triệu Túc nổi lên là lý do trực tiếp buộc Tiêu Tư phải bỏ trốn ngay khỏi Giao Châu.
Điều này dễ hiểu nếu ta nhớ lại rằng cuộc nổi loạn của Lý Bí bắt đầu từ Cửu Đức, nơi mà ông làm Giám quan. Có lẽ Lý Bí đã từ đó tiến lên phía Bắc qua châu Ái. Chu Diên ở trên biên giới với châu Ái và là cửa ngõ tiến vào đồng bằng sông Hồng. Khi Triệu Túc mở cửa Chu Diên để Lý Bí kéo quân vào đồng bằng sông Hồng thì Lương triều hiểu ngay rằng họ không còn hy vọng gì nữa nên Tiêu Tư phải mua chuộc để tìm đường chạy trốn khỏi Giao Châu. Trong khi Trung Quốc nhìn thấy những rắc rối về chiến lược trong sự lãnh đạo của Triệu Túc họ lại cố tình làm ngơ không biết ông là ai để chỉ nói đến Lý Bí là loại nguời đã được phân hạng theo đường lối chính trị có lợi cho Bắc triều.
Phản ứng của Lương triều đình về cuộc nổi loạn của Lý Bí rất mau chóng. Tôn Chung, Thứ Sử Cao Châu, và Lư Tử Hùng, Thứ Sử Tân Châu được lệnh đem quân đi dẹp Lý Bí. Cao Châu và Tân Châu là hai trong số những châu mới được lập ra từ châu Quảng cũ mà nay nằm về phía Tây Quảng Châu. Tôn Chung và Lư Tử Hùng đều là dân địa phương và Lương triều tìm cách đẩy họ vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan một bên là phải biểu dương lòng trung thành với triều đình bằng cách tiến quân một bên biết rằng việc tiến quân vào miền biên giới này nhất định có nhiều rủi ro.
Đầu xuân năm 542 khi mùa mưa sắp bắt đầu, Tôn Chung và Tử Hùng yêu cầu được hoãn binh đến mùa Thu, khi những nguy cơ về sốt rét và những chứng bệnh khác do gió mùa gây ra giảm bớt. Nhưng lời yêu cầu của họ lập tức bị Tiêu Ánh bác bỏ, và Tiêu Tư lại thúc dục tiến quân. Đội quân miễn cưỡng này tiến tới Hợp Phố thì bị chặn đường và khoảng từ 60% đến 70% quân sĩ bị thiệt mạng, không rõ là vì sơn lam chướng khí hay vì bị quân Lý Bí phục kích. Quân Lương triều chạy tan tác và hậu quân hỗn loạn không dám tiến tới.
Tôn Chung và Lư Tử Hùng rõ ràng là nạn nhân của một sự chuẩn bị vội vàng do cấp trên bắt buộc. Có lẽ vì muốn gỡ lại danh dự bị tổn thương nên Tiêu Tư báo cáo về triều đình là hai tướng cầm quân thông đồng với giặc nên dẫn đến thảm bại. Sau khi báo cáo, Tiêu Tư được lịnh triều đình triệu hồi Chung và Hùng về Quảng Châu để xử tử hình.
Việc xử tử hai tướng này đã gây một làn sóng phản đối rất mạnh mẽ. Các con và cháu của Tôn Chung và Tử Hùng chiêu tập được một đạo quân bản bộ rất lớn, bắt được viên Đốc Hộ địa phương và tấn công Quảng Châu với ý định giết chết Tiêu Tư và Tiêu Ánh để báo thù. Nhưng Trần Bá Tiên đã kéo quân bản bộ 3.000 người đến kịp thời nên cứu thoát được Tiêu Ánh và tái lập trật tự ở Quảng Châu.
Sau chiến thắng này Trần Bá Tiên được tưởng thưởng với những chức vụ mới và ngày càng nổi tiếng hơn khi Tiêu Ánh qua đời sau đó không bao lâu. Còn tông tích Tiêu Tư thì không thấy nhắc đến nữa. Tình hình bấp bênh ở khắp miền Nam sau những biến cố trên không cho phép Lương triều mở một chiến dịch lớn lao nào khác để đánh dẹp Lý Bí ở Giao Châu trong một thời gian khá dài. Tuy nhiên Lương triều vẫn gửi đi những lực lượng nhỏ để dọ thám và quan sát tình hình Giao Châu.
Đầu mùa hè năm 543, quân Lâm Ấp lại xâm nhập Cửu Đức, không biết có phải là do nhà Lương xúi dục hay chỉ là một phản ứng tự nhiên của Lâm Ấp những sự rối ren chính trị ở phía Bắc. Lý Bí sai tướng Phạm Tu xuống Cửu Đức đánh quân Lâm Ấp nhưng thua phải rút về.
Thấy tình hình có vẻ sáng sủa hơn vì những đe dọa từ Bắc xuống và từ Nam lên đã tạm yên nên đầu năm 544 Lý Bí bắt đầu tổ chức giang sơn bằng việc tự xưng là hoàng đế Nam Việt. Nam Việt là nghĩa tiếng Việt từ chữ Nan Yueh. Lý Bí muốn gợi nhớ lại hình ảnh của Triệu Đà mà 7 thế kỷ trước đã bất chấp triều Hán, tự xưng là hoàng đế Nan Yueh. Lý Bí đặt tên nước là Vạn Xuân, và lấy niên hiệu là Thiên Đức. Ông thiết lập hệ thống triều đình và xây cung Vạn Thọ. Tinh Thiện được giao cho phụ trách dân sự và Phạm Tu phụ trách quân sự; Triệu Túc làm Thái Phó.
Thái Phó là một trong các tước gồm ba vị vương hầu có từ thời đại nhà Châu thời thượng cổ để cố vấn cho nhà vua về những điều tốt xấu trong nước. Đến thời Hậu Hán thì chỉ còn một người được phong chức Thái Phó. Nhưng đến thời nhà Tấn, lại quay lại lề lối cũ là có cả ba vị, và tất cả những triều đại về sau ở miền Nam cũng đều theo lệ đó. Sự xuất hiện của chức vị Thái Phó ở Việt Nam thế kỷ 6 cho thấy Triệu Túc được coi như quân sư hàng đầu của Lý Bí.
Xuất thân là giám quan ở biên thùy khi rời miền Nam lên kinh đô Lương để tìm một vị trí trong bắc triều, nhưng Lý Bí đã bất mãn quay về để lại làm việc cũ. Xét sự thông thạo của những người như Lý Bí và Tinh Thiện về triều đình và chính quyền Lương, lẽ tự nhiên là họ muốn được độc lập nhưng rập theo khuôn mẫu Trung Quốc. Ý tưởng có một vị hoàng đế, môt niên hiệu và một cái tên văn vẻ để đặt cho đất nước đều bắt nguồn từ những gợi ý từ triều đình Trung Quốc cả.
Trong khi đó, Triệu Túc rõ ràng là người gốc ở vùng đất thấp trong đồng bằng sông Hồng. Không có chứng cứ gì chứng mình rằng ông là một quan chức của triều đình Lương cả nhưng chắc chắn ông là chủ một gia đình địa phương có thế lực và có ảnh hưởng mạnh ở Chu Diên. Mặc dù Chu Diên nằm ở ven phía Nam của một trung tâm nông nghiệp, nhưng chắc cũng đã bị bao trùm bởi văn hoá Phật Giáo của Việt Nam.
Họ Đỗ từng cai trị Việt Nam trong nửa cuối của thế kỷ 4 và đầu thế kỷ 5, thiết lập cơ ngơi ở Chu Diên. Đến cuối chương này, chúng ta sẽ thấy xuất hiện nhà sư Phật Giáo, danh tiếng nhất của Việt Nam ở cuối thế kỷ 6, là người gốc ở Chu Diên và cũng mang họ Đỗ. Vậy chúng ta có lý để tin rằng Triệu Túc tiêu biểu cho nền văn hoá Phật Giáo ở đồng bằng sông Hồng.
Là Thái Phó, Triệu Túc có thể đã gây được ảnh hưởng của Phật Giáo lên triều đình Lý Bí. Có bằng chứng cho thấy là một ngôi chùa Phật Giáo với bức tượng “Amitabha”, cao gần 2 mét rưỡi, ngồi trên bệ, được tạc bằng đá, và xây dựng bởi Lý Bí. Kiểu dáng của tượng Amitabha mà nay vẫn còn, rất giống với những tượng được thấy ở Long Môn, Bắc Trung Quốc thuộc thế kỷ 6.
Ông Nguyễn Phúc Long, một sử gia Việt Nam đương đại, cho rằng người như Tinh Thiệu đã từng phục vụ ở triều đình Lương tại Nam Kinh tất đã đem kiểu này từ Trung Quốc về Việt Nam. Bức tuợng vĩ đại được tạc nên để khánh thành triều đại Lý Bí đầu tiên ở Việt Nam. Tượng được đặt ở trong một ngôi chùa tên là Vạn Phúc mà không đề ngày tháng xây dựng, nhưng sử gia Nguyễn Phúc Long cho là ngôi chùa này được xây đựng cùng thời với cung Vạn Thọ. Phúc và Thọ là những danh từ tốt đẹp được dùng nhiều trong văn chương Việt Nam và Trung Quốc thời thượng cổ. Dù sao thì việc lấy Phật Giáo làm nền tảng hậu thuẫn cho một truyền thống quân chủ và độc lập là một trong những chủ đề quan trọng trong lịch sử Việt Nam sau này, đặc biệt là từ thế kỷ 10 đến 14. Chủ đề này có thể đã bắt rễ từ các phong trào độc lập trong thế kỷ 6 và cũng có thể được truy nguyên từ thời Sĩ Nhiếp.
Lý Bí tổ chức triều đình theo phong cách Trung Quốc và có lẽ chính ông là vị vua Việt Nam đầu tiên đỡ đầu cho Phật Giáo vì có nhiều bằng chứng cho thấy nhà vua rất tôn trọng tinh thần thờ phụng của toàn dân chúng. Những di sản và tài liệu về các đình chùa cho thấy Lý Bí đã cho xây một ngôi đền thờ và truy phong chức tước cho Bà Triệu, người nữ anh hùng lãnh đạo cuộc nổi dậy giành độc lập vào năm 248. Ngôi đền thờ này vẫn còn tọa lạc ở vùng đất xưa kia là Cửu Chân hay Ái Châu. Có lẽ Lý Bí cũng biết rằng muốn bắc tiến thì phải đi qua châu Ái như Bà Triệu đã làm trước đó nên sau khi dựng cờ khởi nghĩa ông đã cho xây ngôi đền này, trước là ghi nhớ công lao người nữ anh hung, sau là kích thích tinh thần quân sĩ.
Mặc dù trị vì vỏn vẹn chỉ được vài năm, điều vua Lý Bí luôn quan tâm là trấn thủ chặt chẽ vùng biên thùy và giữ cho dân chúng thái bình. Tài liệu còn sót lại duy nhất nói về việc này là vài dòng ngắn ngủi sau đây viết về Lý Phục Man, một trong các tướng lãnh của Lý Bí:
“Ông (Phục Man) phụ tá vị vua ở phương Nam này với tư cách là một đại tướng quân và nổi tiếng là một người trung thành và dũng cảm. Ông được giao phó cai quản hai vùng thung lũng Đỗ Động và Đường Lâm; bọn Lao [man di] rất sợ ông và không dám gây rối, ông đã giữ được thái bình trong khắp vùng”.
Lý Phục Man được dân chúng thờ phụng sau khi ông mất và được truy phong sau này bởi một vị vua Việt Nam ở thế kỷ 11. Đỗ Động và Đường Lâm được nhắc đến trong các sử liệu Việt Nam ở thế kỷ 10 như là một khu vực nằm dọc theo bờ nam sông Hồng, tây bắc Hà Nội ngày nay. Nhiệm vụ quan trọng của Lý Phục Man là canh giữ bờ nam sông Hồng và bên kia sông là quê hương của Lý Bí nơi ông có trách nhiệm canh giữ bờ phía bắc để cả hai cùng chung lưng khoá chặt con đường chiến lược dẫn vào vùng núi non và chế ngự vùng đồng bằng khỏi bị các bộ lạc trên núi xuống quấy rối. Những bộ lạc kể trên này được người Trung Quốc và Việt Nam thời đó gọi là Lao; nhưng chân tướng đích thực của họ thì không được rõ, dù được cho là có liên hệ đến các dân tộc thuộc ngữ hệ Thái.
Kinh đô của Lý Bí không được nói rõ trong sử liệu, nhưng chúng ta có thể đoán chính là vùng Gia Ninh, nằm cạnh quê nhà của Lý Bí nơi mà sông Hồng được các sông nhánh khác đổ vào. Tương truyền rằng Gia Ninh, một trung tâm chính trị thiên nhiên ở ngay cửa ngõ vào đồng bằng sông Hồng, là nơi các vị vua Hùng đã từng cai trị Việt Nam rất lâu trước đó.
Trong khi Lý Bí và phụ tá Lý Phục Man canh giữ vùng núi và duy trì thanh bình ở miền đồng bằng thì những tướng quân tin cẩn khác như Phạm Tu, canh giữ vùng biên thùy gíap Lương và gíap Lâm Ấp. Nền hành chánh ở vùng đồng bằng có thể do Tinh Thiệu giám sát từ trị sở của ông trong thành Long Biên. Còn gia đình Triệu Túc, chắc chắn là một gia đình có thanh thế khắp vùng đồng bằng sông Hồng.
Không may cho Việt Nam những hoạt động đầu tiên nói trên của họ để tiến tới độc lập đã bị phá vỡ bởi tài cung kiếm và những tham vọng đế vương của Lương tướng Trần Bá Tiên. Tuy bị bắc triều đè bẹp như thế các phong trào nổi dậy giành độc lập vẫn tiếp tục hoạt động nhiều chục năm sau để luôn nhắc nhớ người Việt rằng họ là một dân tộc riêng biệt. Chính tinh thần độc lập luôn được hun đúc ấy đã đóng góp vào việc giành lại nền độc lập cho Việt Nam sau này.
Lại nhắc lại chuyện Lý Bí, vào năm 545, Lương triều đã phần nào ổn định được tình hình ở phuơng Nam nên lại chuẩn bị để tấn công Lý Bí. Dương Phiêu được phong Thứ Sử Giao Châu và Trần Bá Tiên chịu trách nhiệm về quân sự. Một đội quân gồm phần nhiều là các chiến binh dày dạn kinh nghiệm được tập hợp tại châu Quảng và tiến về phía Tây để nhập chung với quân của Tiêu Bột, Thứ Sử Định Châu, nay là Quảng Tây. Vì cha của Tiêu Bột là anh em họ với vua Lương nên lời nói của ông rất có ảnh hưởng. Hơn nữa, ở Định Châu đã lâu, Tiêu Bột lại được ở vào địa vị để có thể hiểu biết rõ tình hình ở miền Nam xa xôi, nênTiêu Bột nhắc lại những nỗi sợ hãi của các quân sĩ khi phải tiến vào miền xa xôi ấy và khuyên Dương Phiêu hãy bỏ cuộc viễn chinh và tìm mưu lược khác. Dương Phiêu bèn triệu tập một cuộc họp để hội ý các quan quân nhà Lương. Chính những phát biểu cương quyết của Trần Bá Tiên trong hội nghị này đã dẫn đến quyết định tiếp tục đem quân tấn công Lý Bí và chứng tỏ rằng mộng đế vương của Trần Bá Tiên sẽ thành hiện thực sau này:
Giao Chỉ đã nổi dậy làm loạn và chống lại triều đình, gieo rắc hoang mang và rối loạn sang nhiều châu khác mà vẫn không bị trừng trị năm này qua năm khác. Định Châu muốn hưng binh bí mật tiễu phạt để giải quyết tình hình thay vì tấn công trực tiếp nhưng chúng ta đã nhận được lệnh vua để trừng phạt một tội phạm thì chúng ta phải thi hành lệnh ấy dù chết cũng cam. Nếu chúng ta cứ loanh quanh mãi mà không tiến quân thì càng làm tăng uy thế của loạn quân và làm mất tinh thần quân sĩ chăng ?
Thuyết phục bời những lời lẽ hùnng hồn của Trần Bá Tiên, Dương Phiêu phong y làm tướng tiên phong và ra lệnh tiến quân. Gần cuối mùa hè năm 545, quân Lương tiến vào giang sơn Vạn Xuân. Lý Bí huy động quân lên tới 30.000 người để nghênh chiến khi địch tiến tới đồng bằng sông Hồng. Quân Lương triều tiến vào vào bằng đường nào không thấy ghi trong sử, nhưng dựa theo các chi tiết của cuộc chiến, có thể là bằng đường thủy.
Bị Trần Bá Tiên đánh bại ở vùng đất thấp dưới Chu Diên, Lý Bí liền rút về cửa sông Tô Lịch, vùng ven biên Hà Nội bây giờ. Nơi đây, ông tìm cách chận đánh Bá Tiên với một hệ thống phòng thủ xây đắp vội vàng nên lại thua và phải rút về cố thủ và sau đó bị quân nhà Lương bao vây trong thành Gia Ninh.
Đến năm 546, thành Gia Ninh bị hạ. Nhưng Lý Bí đã chạy thoát được vào vùng núi gần đó, tá túc với các bộ lạc Lao. Từ đây ông lại cố gắng tập hợp một số quân sĩ cùng với một số các thủ lãnh bộ lạc Lao để đến mùa thu năm ấy, ông lại kéo 30.000 quân xuống đồng bằng quyết một trận sống mái với quân nhà Lương.
Lý Bí đóng quân ở bờ hồ Điển Triết trên biên giới quận Tân Xương giữa vùng núi và đồng bằng. Hồ Điển Triết là một hồ điều tiết nước thiên nhiên, cung cấp nước cho các con sông nằm quanh trong mùa cạn và nhận nước từ những sông này vào mùa lũ. Để chuẩn bị, Lý Bí cho quân sĩ đóng nhiều thuyền đậu đầy mặt hồ. Quân Trần Bá Tiên đóng ở vùng cửa hồ và quan sát các hành động chuẩn bị của Lý Bí mà thêm sợ hãi. Cảm thấy giờ phút quyết liệt đã đến, Trần Bá Tiên vội họp các tướng sĩ lại và nói:
Ta cầm quân đã bao lâu nay rồi và quân sĩ hết sức mệt mỏi cả về tinh thần lẫn thể xác. Hơn nữa, chúng ta ở đây trơ trọi không có quân cứu viện mà lại tiến quá sâu vào đất địch. Nếu không chiến thắng được trận này nữa, làm sao có thể hy vọng sống mà về? Nay vì lẽ địch đã mấy lần thua chạy, tinh thần của chúng tất giao động và bọn man di Lao lại không có kỷ luật và không tin cậy được, nên sẽ dễ dàng cho chúng ta tận diệt. Chúng ta chỉ còn một cách là đánh cho đến hơi thở cuối cùng, tập trung tất cả sức mạnh của ta để chiến thắng. Không có lý do gì trì hoãn nữa. Giờ quyết liệt đã điểm.
Nghe thấy thế các quan quân nhà Lương đang lo lắng đều lấy làm sững sờ và không biết trả lời ra sao vì họ biết rằng, mặc dầu Lý Bí đã thua mấy trận nhưng tài lẩn tránh của ông thật tài tình, nên rất có thể Lý Bí sẽ tồn tại được lâu hơn sức mạnh tấn công của Lương quân. Việc Trần Bá Tiên khẳng định rằng “tinh thần dân quân [ của Lý Bí] giao động” là duy ý chí vì chỉ dựa trên lòng trung thành của ông với bắc triều.
Về phía vua Việt Nam Lý Bí, vì thời gian trị vì quá ngắn ngủi nên chưa tạo được lòng trung thành sâu đậm trong dân chúng Việt. Hơn thế nữa, ý tưởng độc lập đối với triều đình phương Bắc có lẽ còn quá mới để có thể nhiều người lĩnh hội được. Gần một năm đã trôi qua từ khi Lý Bí phải rút lui vào vùng núi nên sự trở về của ông chắc đã nâng cao được tinh thần của người Việt và họ hy vọng rằng cuộc phản công lần này có thể sẽ quét sạch được đạo quân Lương đơn độc ra khỏi bờ cõi.
Đoạn trích lời hiệu triệu của Bá Tiên ở trên cho thấy ở một mức độ nào sự thành công của Lương quân tùy thuộc vào tư cách của một cá nhân và cũng ở một mức độ nào đó các lời hiệu triệu này đã giúp Lương quân vượt qua được những thử thách của các cuộc nổi dậy đang dấy lên như sóng cồn ở miền Nam. Những cái gọi là “sự thất bại” của Lý Bí được ghi trong sử liệu Trung Quốc thật ra có thể chỉ là những lần rút lui chiến lược của ông nhắm mục đích nhử cho quân Trung Quốc vào thật sâu trong nội địa, xa hẳn các căn cứ tiếp tế, để rồi đánh cho chúng bị hao mòn vì mệt mỏi.
Nếu kế hoạch của Lý Bí đúng là như thế thì sự lì lợm của Bá Tiên chỉ đưa y đến chỗ thất bại mà thôi. Nói theo Ngô Sĩ Liên, có lẽ lòng Trời chưa thuận cho Lý Bí và nước Việt non trẻ, ngay cái đêm mà Trần Bá Tiên hiệu triệu tướng sĩ thì mưa đổ rất nhiều, mực nước sông đột nhiên dâng cao làm cho nước từ các sông tràn thật nhanh vào hồ Điển Triết khiến các ghe tàu của Lý Bí bị rối loạn. Nắm ngay lấy cơ hội ấy, Bá Tiên cho quân xuống thuyền và kéo tràn vào trong hồ giữa bao tiếng hò reo vang trời. Vì không ngờ là nước sông lại tràn vào hồ nhanh như thế nên quân sĩ của Lý Bí bị rối loạn, tan rã hàng ngũ. Lại một lần nữa Lý Bí chạy thoát vào miền núi giữa các bộ lạc Lao và tập hợp lại quân sĩ trong thung lũng Khuất Liễu ở thượng lưu sông Hồng để tiếp tục chiến đấu. Nhưng lần này một trong các bộ lạc người Lao đã bị Trần Bá Tiên mua chuộc nên đã ám hại và gửi thủ cấp Lý Bí về cho Bá Tiên.
Năm 547, sau cái chết của Lý Bí, anh lớn của ông là Lý Thiên Bảo trốn thoát được và chạy về bờ biển ở phía nam Cửu Đức. Nơi đây, với sự hậu thuẫn của một thủ lãnh địa phương là Lý Thiệu Long, ông triệu tập được một đạo quân lên tới 20.000 người. Sau khi tiến quân vào Cửu Đức và giết được Trần Văn Giỏi, Thứ Sử của Lương triều, Thiên Bảo tiếp tục đem quân tiến đánh Ái Châu nhưng Trần Bá Tiên đã kéo viện binh đến kịp thời và Lý Thiên Bảo lại phải chạy vào miền núi. Qua các sự kiện trên chúng ta thấy rằng vì tính cương quyết của Bá Tiên nên vương quốc Vạn Xuân non trẻ của Lý Bí đã bị dẹp tan, nhưng vì những rối loạn bùng nổ ngay sau đó ở miền Bắc đã khiến Trung Quốc không thể tiếp tục kiểm soát Việt Nam được nữa.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét