Việt Nam khai quốc - the birth of Vietnam (7)
Các tài liệu của Trung Quốc và Việt Nam đều có ý kiến trái ngược nhau về các diễn biến lịch sử tại miền Nam vào thế kỷ 6. Trước khi nghiên cứu các sử liệu Việt Nam, chúng ta hãy xem xét cẩn thận các quan điểm trong sử liệu của Trung Quốc để xác định xem mức độ khả tín từ phía sử liệu Việt Nam. Điểm chính là xét đến sự sụp đổ của quyền lực Trung Quốc đã tạo được những khoảng trống để người Việt Nam có thể theo đuổi nền chính trị độc lập của họ trong thời gian này.
Năm 548, sau khi dẹp tan được cuộc nổi dậy của Lý Bí, Trần Bá Tiên quay về với chức vụ cũ của ông là Đốc Hộ Quan ở sông Tích trong tỉnh Quảng Tây bây giờ. Lúc đó, đế quốc Thác Bạt, (tức là triều Bắc Ngụy) đã từng thống trị miền Bắc Trung Quốc trong một thế kỷ rưỡi, đang bị tan rã dưới áp lực của những vị tướng quân Trung Quốc đầy tham vọng và kiểm soát phần lớn vùng đồng quê Trung Quốc. Trong số các vị tướng này có Hầu Cảnh làm Thứ Sử khu vực tỉnh Hồ Nam bây giờ. Năm 547, Hầu Cảnh tuyên bố là ông sẽ trung thành với triều Lương, nhưng qua năm sau, với nội ứng của một số hoàng thân và quan chức Nhà Lương, ông đã công khai tấn công kinh đô Nhà Lương và giết được Lương Vũ Đế vào năm 549.
Việc Hầu Cảnh làm phản ở kinh đô khiến Trần Bá Tiên càng nôn nóng muốn kéo ngay quân về Bắc để đọ sức với kẻ soán nghịch. Vào năm 548 khi đang sắp sửa kéo quân về cứu gía Lương triều thì Bá Tiên được tin Thứ Sử châu Quảng là Nguyễn Cảnh Trọng đang bí mật chuẩn bị theo phe Hầu Cảnh. Thế là xung đột giữa Bá Tiên và Cảnh Trọng nổ ra công khai ngay lập tức. Năm 549, Bá Tiên đánh bại Cảnh Trọng và mời Tiêu Bột làm Thứ Sử Quảng Châu. Như thế là mặt phía Nam đã tạm ổn nên Bá Tiên lại tính đến chuyện Bắc tiến, nhưng ông vẫn biết rằng vẫn còn nhiều khó khăn trước mặt vì trên đường bắc tiến, nằm giữa châu Quảng và vùng núi rừng ở phía Bắc ngăn chia lưu vực sông Tích và sông Dương Tử, là châu Hàng. Khi Bá Tiên mang quân đánh Lý Bí năm vào 545 thì có Lan Khâm, thứ sử Hàng Châu và người phụ tá rất tin cậy của ông ta là Âu Dương Nguy đi theo. Khi Lan Khâm chết vì bệnh trên đường đi đến Giao Châu thì Âu Dương Nguy được phép đem thi thể Lan Khâm về Hàng Châu. Sau đó, Âu Dương Nguy được lệnh ở lại canh giữ Hàng Châu để các quan chức tháp tùng Bá Tiên Bắc tiến đánh Hầu Cảnh.
Khi Hầu Cảnh giết được Lương Vũ Đế thì ở miền Nam, các quan chức địa phương tranh nhau nổi lên chiếm quyền và giành đất đai; trong số đó có Lan Dụ là em của Lan Khâm đã chết. Lúc đó Lan Dụ đang làm Thứ Sử Cao Châu và có ý rủ Âu Dương Nguy theo y làm phản nhưng Nguy từ chối. Thấy thế Lan Dụ bèn xua quân đánh Âu Dương Nguy ở Hàng Châu nhưng nhờ có Trần bá Tiên kéo quân đến cứu nguy nên Lan Dụ bị đánh bại. Vì thế sau này Âu Dương Nguy đã giúp Trần Bá Tiên khi ông tiến qua vùng núi Hàng Châu để tiến đánh Hầu Cảnh.
Cũng như đã từng khuyên Trần Bá Tiên đừng đánh Lý Bí, Tiêu Bột lần này lại khuyên Bá Tiên nên kiềm chế nhưng Bá Tiên cũng vẫn không nghe. Năm 550, Bá Tiên thắng một trận lớn ở phía Bắc dãy núi nằm trong tỉnh Giang Tây ngày nay nên được một hoàng thân triều Lương thưởng công bằng cách phong ông làm Thứ Sử Giao Châu. Cần nói thêm rằng rõ ràng Trần Bá Tiên lúc đó không ở Giao Châu nên trong tình hình nhiễu nhương đó những vụ bổ nhiệm của Lương triều chỉ là hình thức.
Năm 551, Trần Bá Tiên lại đánh thắng nhiều trận khác nữa và đến năm 552, Hầu Cảnh bị đánh bật ra khỏi kinh đô và bị giết chết. Nguyên đế, một hoàng thân nhà Lương gốc ở vùng trung lưu sông Dương Tử, lên ngôi và giao phó nửa phần phía Đông Trung Quốc, bao gồm cả kinh đô, cho hai vị tướng quân có uy thế nhất trong đó có Trần Bá Tiên; còn vua thì đóng đô ở thành trì mà bây giờ gọi là Vũ Hán (Hán Khẩu). Miền Nam thì vẫn trong tay Tiêu Bột.
Vào lúc đó việc đầu tiên của Tiêu Bột là dẹp yên một cuộc nổi dậy mới ở Quảng Châu. Việc Lương triều bị suy sụp quyền lực ở miền Nam được kể trong sử Trung Quốc rằng khu vực dưới quyền của Tiêu Bột trải dài ra gần 1.000 dặm, mà dân số đăng ký không quá 30.000 người. Một dặm Hoa thường được tính là 360 bộ, như thế 1.000 dặm Hoa tính ra khoảng 365 dặm Anh gần bằng khoảng cách từ hành dinh của Tiêu Bột ở Quảng Châu đến sát biên giới Giao Châu. Do đó câu nói “1.000 dặm” trong sử liệu Trung Quốc có tính cách khoa trương cả về tâm lý và địa lý. Nếu ta để ý thêm một chút nữa thì câu “chưa đến 1 nghìn dặm” có ngụ ý rằng phạm vi quyền hành của Tiêu Bột hết sức giới hạn.
Tuy là một người hợp tác cũ với Bá Tiên, nhưng Tiêu Bột lại không được Nguyên đế tin cẩn lắm vì thấy ông chiêu mộ và huấn luyện một đạo quân rất lớn. Hòng phá tan mối nghi ngờ của vua, Tiêu Bột đánh liều về triều yết kiến Nguyên đế và sẵn sàng trả lời bất cứ tội trạng nào mà ông bị cáo buộc nhưng Nguyên đế vẫn giả bộ làm ngơ như không biết ông là ai. Đến năm 554, Nguyên đế sai Vương Lâm, một vị tướng danh tiếng ở miền Bắc xuống thay Tiêu Bột. Vương Lâm trú đóng gần một năm nơi ở nơi mà bây giờ là Quảng Tây. Cảm thấy bị sức ép từ triều đình do việc bổ nhiệm và trú đóng của Vương Lâm nên Âu Dương Nguy ngày càng ngả theo ý định làm phản của Tiêu Bột. Khi ấy, Âu Dương Nguy đang cai quản Thủy Hưng một địa điểm chiến lược nằm trên đường từ Quảng Châu lên phía Bắc. Tuy nhiên tình hình căng thẳng giữa Vương Lâm và Tiêu Bột đột nhiên tắt ngấm vì Vương Lâm phải vội quay về Bắc do các biến cố quan trọng diễn ra trên đấy.
Kể từ khi Hầu Cảnh cướp ngôi nhà Lương thì ở Tây Bắc Trung Quốc có xứ Thác bạt còn được gọi là Tây Ngụy, đang lấn chiếm biên giới Bắc và Tây của lãnh thổ Lương và cuối cùng thì Thác Bạt chiếm được kinh đô nhà Lương vào năm 555. Tây Ngụy cũng chiếm phần lớn vùng trung lưu sông Dương Tử mà về sau trở thành triều đại Bắc Chu vào năm 557. Chính vì muốn chống lại cuộc xâm lăng này mà đột nhiên Vương Lâm phải vội quay về Bắc vào cuối năm 554 nhưng không quên để Lưu Nguyên Yển, một bộ hạ thân tín của ông, ở lại Quảng Tây. Lưu Nguyên Yển là người được phong chức thứ sử danh dự Giao Châu vì ông ta chưa đặt chân lên đất Giao Châu bao giờ.
Ngay sau khi Vương Lâm về Bắc thì Tiêu Bột tiếp tục củng cố sức mạnh quân sự. Cuối năm 555, khi Tiêu Bột đang củng cố địa vị ở miền Nam thì Lưu Nguyên Yển lại đem quân trở về Bắc để tìm gặp Vương Lâm. Năm 556, cả Tiêu Bột lẫn Âu Dương Nguy được Trần Bá Tiên thăng chức. Tuy nhiên đến đầu năm sau, khi Bá Tiên đoạt ngôi nhà Lương và chính thức xưng đế nhà Trần, thì Tiêu Bột, vì thuộc dòng giõi hoàng tộc Nhà Lương, đã thẳng thừng tuyên chiến. Tiêu Bột ở lại Thủy Hưng và sai Âu Dương Nguy đem quân lên Bắc để đánh tân vương là Trần Bá Tiên nhưng Âu Dương Nguy bị thua và bị bắt. Tin thua trận vừa về đến Thủy Hưng thì bộ hạ của Tiêu Bột vội vã thủ thân ai lo phận nấy. Trong số các bộ hạ này có Trần Pháp Vũ, đã làm phản và giết được Tiêu Bột. Cũng như trước đó Trần Bá Tiên với chức Thứ Sử danh dự Giao Châu, Lưu Nguyên Yển với chức thứ sử danh dự Giao Châu, Trần Pháp Vũ cũng giữ chức thứ sử danh dự Cửu Đức vào năm 557 mặc dầu ông ta chẳng bao giờ ở Cửu Đức, trừ thời gian theo Trần Bá Tiên đi đánh Lý Bí.
Sau khi Tiêu Bột chết, miền Nam lại rối loạn. Biết được là Âu Dương Nguy cũng có một ít uy danh ở miền Nam nên Trần bá Tiên quyết định thả ông về và bổ ông làm Thứ Sử Hàng Châu kiêm Đô Đốc với quyền hành quân sự trên toàn bộ 19 châu mà trên lý thuyết bao gồm cả hai châu Quảng và Giao. Con của Âu Dương Nguy là Âu Dương Hốt, là người cũng đã từng ở miền Nam, phụ tá cho cha để tìm cách lôi kéo phe Tiêu Bột cũ về quy thuận vì phe này đã rút về Quảng Châu.
Nhưng một tháng sau, Vương Lâm ở trong lưu vực sông Dương Tử lại nổi loạn và miền Nam phải gánh chịu sự cai trị hà khắc của y tới ba năm. Mặc dầu được Tân vương Trần Bá Tiên phong chức vào năm 557, Vương Lâm vẫn ngấm ngầm trung thành với hoàng gia Lương. Được hậu thuẫn của một quan chức ở miền Nam nên năm 558 Vương Lâm tìm cách lôi kéo họ về hẳn phe cánh với ông. Cũng vào năm ấy, Âu Dương Nguy được bổ nhiệm Thứ Sử Quảng Châu, có lẽ vì Trần Bá Tiên muốn mua chuộc lòng trung thành của ông. Khi Trần Bá Tiên mất năm 559, Thứ Sử Quế Châu tức Quảng Tây bây giờ đến quy thuận Vương Lâm nhưng Âu Dương Nguy vẫn trung thành với Bá Tiên và được phong môt loạt chức tước mới và quyền lực cao hơn. Rốt cuộc, đến năm 560, Vương Lâm bị đánh bại và buộc phải về ẩn trốn ở vùng Đông Bắc Trung Quốc. Trong thập kỷ sau, tình hình ở miền Nam được tương đối ổn định dưới quyền cai trị của cha con Âu Dương Nguy.
Tương truyền rằng trong thời gian Vương Lâm nổi loạn, Âu Dương Nguy bí mật nhận được một số vàng từ Viên Đàm Hoãn, lúc đó là Thứ Sử Giao Châu. Âu Dương Nguy đem một phần số vàng ấy chia cho Thái Thú Hợp Phố và phần còn lại ông đem cho con trai mình là Âu Dương Hốt. Việc làm mập mờ này có lẽ có liên quan đến việc tưởng thưởng cho lòng trung thành với Nhà Trần vì ông không theo phe nổi dậy của Vương Lâm.
Khi Viên Đàm Hoãn chết, chức Thứ Sử Giao Châu lại về tay em của Âu Dương Nguy là Âu Dương Thịnh. Chức này của Âu Dương Thịnh lại cũng rõ ràng là một chức danh dự bởi vì hành động duy nhất của ông được ghi lại là việc ông giúp anh ông ta dẹp yên được loạn quân ở Quảng Châu. Điều này gợi nhớ đến vụ bổ nhiệm Trần Bá Tiên làm Thứ Sử Giao Châu năm 550 sau khi Bá Tiên đã rời khỏi miền Nam, và cả vụ ra đi của Lưu Nguyên Yển, Thứ Sử Giao Châu lên miền Bắc để theo Vương Lâm vào năm 555; cùng là chức phong cho Trần Pháp Vũ, Thứ Sử Cửu Đức, người đã giết được Tiêu Bột ở Thủy Hưng năm 557. Những người này thực sự chắc cũng có ít nhiều liên hệ đến Giao Châu, có lẽ là đã tham gia đội viễn chinh của Bá Tiên đi chinh phạt Lý Bí, nhưng tất cả mọi bằng chứng đều cho thấy là họ chỉ giữ chức Thứ Sử danh dự mà thôi.
Năm 563, Âu Dương Nguy qua đời, Âu Dương Dương Hốt lên kế vị. Sử chép Âu Dương Hốt: “Rất oai nghiêm nhưng tử tế với người Bách Việt”. Danh từ Bách Việt được dùng ở đây như một từ tổng quát để chỉ tất cả mọi dân bản xứ ở miền Nam và câu “những người đã sống với người Bách Việt” là chỉ những người Trung Quốc và họ hàng của họ ở miền Nam. Từ sự việc đó, ta có thể cho rằng gia đình Âu Dương đã tạo được một cảnh thái bình tương đối trong khu vực dưới quyền kiếm soát của họ mà rõ ràng là không vượt quá vùng Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay. Năm 567, Thứ Sử châu Định, bây giờ là Hồ Nam, nổi loạn và rủ Âu Dương Hốt theo mình. Tuy Dương Hốt không đóng vai trò gì tích cực trong vụ nổi loạn ngắn ngủi này ông cũng bị Triều Trần nghi ngờ. Năm 569, khi được gọi về triều trình diện, Âu Dương Hốt quyết định không về và công khai làm loạn. Năm 570, ông bị bắt và bị đem chém đầu.
Năm 570 đánh dấu một bước ngoặt nhỏ ở miền Nam. Từ khi Lý Bí nổi dậy vào năm 541, miền Nam luôn luôn ở trong tình trạng bất ổn định. Hoặc nếu có một chút ổn định nào đó thì đều được thi hành bởi những người địa phương có thế lực mạnh, những người biết tránh liên lụy đến những rối ren chính trị ở Bắc, hoặc là biết khéo léo lợi dụng những cơ hội ấy. Đi đầu là Trần Bá Tiên rồi đến những nhân vật lãnh đạo khác ở miền Nam theo sau ông đều công khai nổi loạn.
Sau cái chết của Âu Dương Hốt vào năm 570, triều Trần đặt ra biện pháp tổng quản quyền hành ở miền Nam. Sử chép rằng vào thời đó “những người Lao man di ở Giao Chỉ thường hay tụ tập lại đi cướp phá” và Nguyễn Trác được giao nhiệm vụ giải quyết việc này. Tuy thế Giao Chỉ vẫn liên lạc với Lâm Ấp và việc buôn bán về “vàng, chim trả, ngọc trai, đồi mồi, ngọc quý và những đồ hiếm quý” vẫn phát đạt vì tất cả những “sứ giả” gửi xuống Giao Chỉ, từ đầu đến cuối, chỉ lo tích lũy của cải; riêng có Nguyễn Trác thì không làm như thế, và bỏ về tay không”.
Tin tức quý báu này đã soi sáng quan hệ giữa bắc triều và miền Nam xa xôi. Rõ ràng là những người được bổ nhiệm xuống Giao Chỉ đều chẳng ngó ngàng gì đến nhiệm vụ được giao mà chỉ đi theo nghề buôn bán vì béo bở hơn nhiều. Danh từ “sứ giả” dùng ở đây ngụ ý nói những quan chức nhỏ, cấp dưới không quan trọng. Mặc dù Nguyễn Trác cố chống lại những cám dỗ và lợi lộc ấy và bỏ về, ông đã thành công trong việc tạo được mối liên lạc giữa triều Trần và những ngôi chợ phồn thịnh ở miền biển Nam Hải vì trong những năm có cuộc viễn chinh của ông, các sứ bộ ngoại giao của Phù Nam và Lâm Âp, lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, đã sang tận triều Trần để yết kiến.
Ngoài việc mở lại những tiếp xúc thương mại, sứ mạng của Nguyễn Trác cũng tạo được ít ảnh hưởng ở biên giới. Không lâu sau đó, một người tên là Thái Ngung cũng bị nhà Trần tạm thời trục xuất xuống Giao Chỉ mặc dù sử đã không nói rõ y giữ chức vụ gì trước đó. Cũng vào thời gian đó, lại có một người khác tên là Đại Hoàng có tên trong danh sách các quan chức làm Thứ Sử châu Ninh, một trong hai châu xa lắc mà triều Lương thiết lập ở biên giới Lâm Ấp trước đó. Có lẽ Đại Hoàng đã tháp tùng Nguyễn Trác và được phong chức này để thưởng công; mà cũng có thể y được phong chức này như là một chức danh dự mà chẳng bao giờ ra khỏi triều đình Trần cả. Còn về Thái Ngung, mặc dầu y bị đuổi xuống Giao Chỉ, có thể y lại được giao cho một quan hệ chính thức nào đó với các quyền lực địa phương; mặc dù sử liệu không ghi lại bằng chứng nào rõ rệt về một quan hệ như thế.
Trong hai năm sau khi Nguyễn Trác viễn chinh xuống miền Nam, tức là cho tới năm 572, một tướng quân tên Trần Khắc là nhân vật nổi bật nhất ở miền Nam với tư cách là Thứ Sử Quảng Châu. Trần Khắc sau đó lại được thay thế bởi Phượng Tần, một hoàng thân, cháu của mẫu thân Trần Bá Tiên. Phượng Tần được phong chức Đô Đốc là chức cũ của họ Âu Dương ngày trước. Ông nhậm chức vào năm 574 và năm 575 lại bị thay thế bởi một hoàng thân khác. Đến năm sau, ông này lại bị đổi đi, thành ra việc lãnh đạo không được liên tục trong những năm ấy.
Năm 576, Trần Quân Cảo được phong Đô Đốc Quảng Châu. Sử chép rằng: “Bộ lạc Di và những người Lao liên tục đánh lẫn nhau. Quân Cảo lại là một nho sĩ, không thông thạo việc quân sự; nên ông dốc hết tâm lực vuốt ve xoa dịu họ và giảng giải phải trái để đem lại sự hài hoà trong dân chúng”. Năm 578. Quân Cảo chết, thọ được 48 tuổi, chỉ sau hai năm tại chức.
Danh từ Lao, như chúng ta đã biết, là để chỉ những người sống trong vùng núi non miền Nam, và Li, danh từ ở thế kỷ 5 để nói các bộ lạc sống ở miền núi, là một từ được dùng ở thế kỷ 6 để chỉ những sắc tộc phi Trung Quốc sống định cư ở các vùng đất thấp. Người Việt Nam được coi là ở trong số các tộc Li. Theo kinh nghiệm của Quân Cảo, những quyền lực địa phương không thích vai trò kiểm soát của bắc triều, nên ông chỉ tìm cách đóng vai trung gian mặc dù chẳng đi tới đâu!
Những sự rối loạn này đã làm cho Trần Quân Cảo mệt mỏi và có lẽ vì thế ông qua đời sớm dẫn đến kết cuộc là quyền chỉ huy bao trùm của ông trước đó nay bị chia năm xẻ bảy ra thật nhỏ với việc xuất hiện khá nhiều Đô Đốc với quyền hạn trách nhiệm hết sức giới hạn. Theo sách An Nam Chí Lược căn cứ trên các sử liệu Trung Quốc, môt người tên Dương Tấn đã giữ chức Đô Đốc hai châu Giao và Ái một thời gian, sau khi Quân Cảo chết. Và khi triều đại Trần Bá Tiên sụp đổ vào năm 589, lại có một người tên Dương Hựu Phổ làm Đô Đốc Giao Châu.
Ngược lại với các vị đô đốc này, trong số những người có thể đã ở miền Nam với danh nghĩa đại diện của triều đình, có một người tên là Lý Hữu Vinh nào đó, được sử chép là Thứ Sử Giao Châu. Năm 583, Lý Hữu Vinh gửi một số voi đã huấn luyện thuần thục sang triều cống Trần Bá Tiên. Trước đó, voi được thuần hóa đem triều cống thường là của Lâm Ấp. Do đó việc tiến voi một cách lạ lùng của “Thứ Sử Giao Châu” hàm ý rằng Thứ Sử Giao Châu đang ứng xử theo lề lối ngoại giao phi Trung Quốc.
Việc duyệt xét lại một cách ngắn ngủi trên đây về những biến cố ở miền Nam trong thời gian 40 năm kể từ khi Trần Bá Tiên chiến thắng Lý Bí cho đến khi triều đình nhà Trần sụp đổ đều hoàn toàn lấy ở trong sử liệu Trung Quốc. Sử liệu nói về về Giao Châu trong thời gian này thì gần như không có, ngoại trừ lác đác nói đến những chức vị, thậm chí vài lời phê bình bâng quơ còn hầu hết chỉ nói đến những tiếp xúc thương mại thay vì chính trị. Những chi tiết mà chúng tôi đã xem xét theo sử liệu Trung Quốc đều hậu thuẫn những quan điểm cho rằng Trung Quốc vẫn tiếp tục kiểm soát Giao Châu trong suốt thời gian này. Tuy nhiên, có hai điều mâu thuẫn đáng lưu ý:
Điều thứ nhất là thông tin mà chúng tôi đã xem xét kỹ đều nói đến sự suy yếu của quyền lực Trung Quốc ở miền Nam trong suốt thời gian ấy. Trong khi Trần Bá Tiên trở về Bắc những năm 548-52, tinh thần vương triều cũng đi theo ông. Năm 552, quyền của Tiêu Bột không ra khỏi giới hạn tỉnh Quảng Tây bấy giờ. Khoảng giữa những năm 554-60, khu vực tỉnh Quảng Tây bây giờ lại phần lớn chịu ảnh hưởng Vương Lâm. Trong 10 năm sau đó, họ Âu Dương ở Quảng Châu áp dụng hệ thống gia đình trị và sự trung thành được xét theo từng cá nhân. Hệ thống cai trị này đã ảnh hưởng xuyên suốt xuống tới Giao Châu và xa hơn nữa mà phần chính là qua hệ thống thương mại.
Sự sụp đổ của họ Âu Dương năm 570 mà tiếp theo là cuộc viễn chinh của Nguyễn Trác xuống tận miền biên giới đã khiến Lâm Ấp và Phù Nam phải vội gửi sứ giả lên triều đình. Nhưng điều này cũng không thu được kết quả gì và điều ngạc nhiên nhất là nhân vật Nguyễn Trác đã bặt tăm không được nghe nói đến nữa. Những tranh chấp địa phương đã gây nên sự tuyệt vọng của Trần Quân Cảo (576-78) và đưa đến kết quả là sự tan rã của quyền lực bắc triều trong khi triều đại Trần Bá Tiên thoi thóp dưới bóng nhà Tùy. Việc duy trì thương mại có thể là động lực của việc cống nạp voi lên triều Trần vào năm 583 bởi một lãnh tụ địa phương Giao Châu. Như vậy là nguồn sử Trung Quốc không đi ngược lại với điều cho rằng trong những năm nói trên, Giao Châu tự chủ, nếu không phải là độc lập một cách hữu hiệu.
Điều thứ hai là khá nhiều chi tiết lịch sử từ thế kỷ 6 vẫn còn được bảo tồn ở Việt Nam cho đến tận ngày nay. Khi Lý Bí qua đời, nhiều lãnh tụ địa phương nổi dậy chống lại Bắc triều; và sau khi qua đời, họ đều được dân chúng lập đền thờ phượng. Những tiểu sử và đời hoạt động của những vị anh hùng ấy đã được ghi chép lại và bảo tồn trong những ngôi đền thờ cúng họ. Trong nửa đầu thế kỷ 12, những điều ấy đã được chép vào một tác phẩm lịch sử mà tiếc thay, không còn nữa (nhà Minh đã xâm chiếm Việt Nam và ra lệnh thu hồi về Trung Quốc hoặc đốt hết sách của Việt Nam vào thế kỷ thứ 14). May mắn là một số những điều trong tác phẩm bị thất lạc đó đã được sao chép lại sang những sách khác còn tồn tại cho đến nay.
Như chúng ta vẫn hằng mong ước, những chi tiết lịch sử giá trị từ tiểu sử và hoạt động của các vị anh hùng được phong thánh là những gì còn lại, mặc dù không tránh khỏi ít nhiều huyền tích. Tuy thiếu những sự kiện lịch sử giúp chúng ta hiểu được thực sự những gì đã xảy ra; các lời truyền tụng và ghi nhớ trong các đền thờ cũng phô bày một cách rõ ràng môi trường văn hoá mà trong đó những biến cố ấy diễn tiến, hoặc là được dân chúng tạc ghi trong lòng và truyền lại cho con cháu. Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng vào thời ấy, sau hơn 5 thế kỷ dưới ảnh hưởng Trung Quốc, chủ đề độc lập tự chủ đã có từ thời tiền Trung Quốc vẫn mang những ý nghĩa sống còn cho dân tộc Việt.
Khi Lý Bí phải rút vào thung lũng Khuất Liễu sau khi bị Trần Bá Tiên đánh bại ở hồ Điển Triết vào năm 546 thì Triệu Quang Phục, con trai của Thái Phó Triệu Túc trở thành lãnh tụ kháng chiến trong đồng bằng sông Hồng. Triệu Quang Phục lập bản doanh trên một bãi đất nằm giữa khu đầm lầy ở Chu Diên mà nhân dân thường gọi là Đầm Nhất Dạ. Nơi đây theo truyền thuyết dinh thự thần tiên của công chúa Tiên Dung, con vua Hùng Vương, và phò mã Chử Đồng Tử một đêm kia đã bay về trời.
Đầm Nhất Dạ đúng là một nơi ẩn náu lý tưởng vì nếu đội quân nào không thông thạo đường lối ở trong đầm do hệ thống kinh rạch chằng chịt, mà cả gan kéo vào sẽ bị lạc lối, không biết đường đi nữa, và sẽ bị các chiến sĩ của Triệu Quang Phục bất thần xuất hiện và tấn công.
Triệu Quang Phục, theo sử sách ghi lại, đã tập hợp được tới 20.000 quân dưới quyền chỉ huy của ông. Ban ngày thì quân sĩ ẩn nấp ở trong đầm, nhưng đến đêm, ông cho quân ra phục kích, tịch thu lương thực, giết và bắt sống vô số quân nhà Lương, xong rồi lại rút nhanh vào chỗ an toàn trong đầm trước khi quân địch kịp thời đối phó.
Chiến thuật du kích này, theo các nguồn sử liệu Việt Nam, đã khiến Trần Bá Tiên phải than rằng: “Thời xưa, đây là đầm “nhất dạ thăng thiên” (ý ông muốn nhắc đến truyền thuyết lâu đài bay lên trời), nhưng bây giờ là đầm của bọn “nhất dạ đạo tặc”. Dù Trần Bá Tiên có thể chỉ coi Triệu Quang Phục như một tướng cướp, nhưng đối với nhân dân Việt Nam, Triệu Quang Phục lại là một vị anh hùng dân tộc đáng kính. Việc Triệu Quang Phục đặt bản doanh trên địa điểm từng ghi dấu huyền tích cũ không đơn thuần là tượng trưng mà còn mang một ý nghĩa quan trọng hơn nhiều đối với niềm tin của dân chúng.
Có hai biến cố quan trọng góp phần vào sự nổi dậy thành công của Triệu Quang Phục. Thứ nhất là sau cái chết của Lý Bí thì rất nhiều bộ hạ của Lý Bí đều hướng về Triệu Quang Phục như là người lãnh đạo mới. Thứ hai là việc Hầu Cảnh chiếm ngôi nhà Lương và giết Lương Vũ Đế vào năm 549 khiến Trần Bá Tiên phải nhanh chóng quay về Bắc. Một điều nữa không kém phần quan trọng là phương cách mà Triệu Quang Phục chính thống hoá quyền hành của ông như được trình bày sau đây.
Theo truyền thống và phong tục bản xứ, Triệu Quang Phục cho thiết lập một bàn thờ lớn ở giữa đầm, hương khói nghi ngút để vọng hồn các anh linh. Lòng thành của ông được đáp ứng khi Chử Đồng Tử cưỡi rồng vàng giáng trần và bảo ông rằng: “Tuy ta đã về tiên giới từ lâu rồi, nhưng hồn ta vẫn quanh quẩn nơi đây. Vì biết được thành tâm của ngươi và thấy ngươi hết lòng cầu khẩn, nên ta cảm thông, xuống giúp ngươi trong công việc dẹp yên rối loạn này”. Thế rồi Chử Đồng Tử rút ra một cái móng của con rồng vàng, đưa cho Triệu Quang Phục và phán tiếp: “Hãy đặt cái móng rồng này lên chóp nón của ngươi, từ nay đường ngươi đi sẽ dẫn đến thành công. Nói xong, Chử Đồng Tử hóa vào đám mây và biến về trời. Sau đó Triệu Quang Phục lên ngôi vua, xưng vương đất Việt và lấy hiệu là Dạ Trạch Vương.
Trong huyền tích này, Triệu Quang Phục tự khoác lên vai mình cái quan niệm đế vương rút tỉa từ những ý niệm của nhân dân về vấn đề chính thống trong chính trị. Việc Chử Đồng Tử hiện xuống phù trợ cho ông hàm ý rằng Triệu Quang Phục sẽ là một vị vua bảo tồn Phật Giáo, tôn giáo đã có từ thời Sĩ Nhiếp. Tư tưởng tôn giáo này có thể chưa xuất hiện vào thời Quang Phục, nhưng có lẽ đã phát triển sâu rộng hơn trong những thế kỷ sau, dưới ảnh hưởng của Phật Giáo và Lão Giáo vì các sử liệu cho thấy vào khoảng thế kỷ thứ 15 thì Chử Đồng Tử đã thành một hình ảnh quan trọng trong điện thờ các danh thần của Lão Giáo Việt Nam. Thật vậy, nguồn lịch sử cũ nhất về huyền tích này không nói gì đến Chử Đồng Tử mà chỉ nói đến một con rồng vàng. Việc lấy cái móng rồng làm tiêu biểu cho sự bất khả chiến bại và cho chủ quyền chính trị là mang màu sắc và âm hưởng của câu chuyện móng rùa mà ngày xưa đã từng đem lại quyền lực cho An Dương Vương bẩy thế kỷ rưỡi trước đó. Triệu Quang Phục đã khôn khéo sử dụng các huyền sử của Việt Nam trước khi bị Trung Quốc đô hộ để thu phục lòng dân và quân sĩ.
Dương Phiêu, người được phong Thứ Sử Giao Châu, và từng đi theo Trần Bá Tiên vào Giao Châu cũng không được nhắc đến nữa. Trong khi đó thì sử Việt Nam lại nói đến một vị tướng quân là Dương Sàn mà Trần Bá Tiên lưu lại khi ông đem quân về Bắc. Có thể Dương Sàn và Dương Phiêu là một nhưng bị lầm tên chăng? Sau khi Bá Tiên rút khỏi miền Nam và mải mê lo loạn Hầu Cảnh ở miền Bắc thi Triệu Quang Phục đã nhân thời cơ đánh bại và giết được Dương Sàn. Tàn quân Lương sống sót đều chạy cả về Bắc khi Triệu Quang Phục thu hồi được thành Long Biên và đem lại thái bình thịnh trị cho đồng bằng sông Hồng.
Trong khi đó, Lý Thiên Bảo, người anh lớn của Lý Bí, đem quân bao vây Lương quân ở Ái Châu nhưng bị Trần Bá Tiên đánh bại vào năm 547 và sau đó phải chạy trốn lên núi. Theo sử liệu Việt Nam, Lý Thiên Bảo thua chạy và dừng chân ở thung lũng Đà Năng, thượng lưu sông Đào, nơi được trời phú cho đất đai phì nhiêu và dân cư phồn thịnh. Ở đó Thiên Bảo cũng xưng là vua và lấy hiệu là Đào Lang Vương. Khi ông chết năm 555 vì bệnh, ông được một người họ hàng là Lý Phật Tử lên kế ngôi.
Năm 557, Lý Phật Tử đem một đạo quân xuống núi để đánh Triệu Quang Phục, đòi kế ngôi Lý Bí, và tự xưng là Nam Việt Vương. Sau những trận đánh kéo dài tại quê hương Lý Bí, Lý Phật Tử công nhận Triệu Quang Phục mạnh hơn và xin hòa. Về phần Triệu Quang Phục thì cho rằng vì dù sao Lý Phật Tử cũng là họ hàng của Lý Bí nên đồng ý chia đôi quyền lực đồng bằng sông Hồng. Lý Phật Tử được chia quận Tân Xương, vùng đất đai ở mạn Tây sông Hồng và đóng đô ở Ô Diên, phía Tây Hà Nội ngày nay. Còn Triệu Quang Phục thì giữ lại mảnh đất nông nghiệp ở phía Đông Giao Chỉ.
Những diễn biến kể trên liên hệ như thế nào với tình hình rối ren ở miền Bắc thì không có gì khó hiểu. Mặc dù rời Giao Châu từ năm 548, mãi đến năm 550 Trần Bá Tiên mới vượt được qua vùng núi phía Bắc và tiến vào lưu vực sông Dương Tử. Thời gian này, Triệu Quang Phục đã nắm lấy thời cơ đánh bại nốt những đám quân Lương còn sót lại của Trần Bá Tiên và chiếm trọn đồng bằng sông Hồng. Tiêu Bột ở Quảng Châu thì thế lực quá yếu ớt vì quá mải miết với những âm mưu của ông nên chả có ảnh hưởng gì đến Giao Châu. Năm 554, Vương Lâm đột nhiên kéo quân về nơi bây giờ là Quảng Tây và phong cho một bộ hạ của ông là Lưu Nguyên Yển chức Thứ Sử Giao Châu. Quang Phục và Nguyên Yển có thể đã chạm trán với nhau, nhưng có lẽ Nguyên Yển đang để hết tâm trí về miền Bắc, nên năm 555 ông lại kéo cả tùy tùng lên tiếp ứng Vương Lâm trong cuộc tranh giành quyền lực của hoàng tộc Lương.
Năm 557 là năm có thay đổi chính trị ở khắp Trung Quốc. Cũng cần nhắc lại vì Trần Bá Tiên tiếm ngôi nhà Lương lập nên nhà Trần nên Tiêu Bột sai Âu Dương Ngụy đem quân tấn công nhưng thất bại nên Tiêu Bột bị thuộc hạ Trần Pháp Vũ, cựu Thứ Sử Hàng Châu và Thứ Sử danh dự Cửu Đức, giết chết. Sau khi được Trần Bá Tiên tha và phục hồi chức vụ thì Âu Dương Ngụy đem quân về miền Nam nhưng vừa về đến nơi thì Vương Lâm nổi loạn. Từ năm 557 đến 560, Âu Dương Nguy phải đương đầu với thực lực mạnh nhất của Vương Lâm vào lúc ấy trong vùng Quảng Tây bây giờ và gíap giới Giao Châu. Triệu Quang Phục ở vào thế lưỡng đầu thọ địch, một bên là quân nhà Trần, còn bên kia là Lý Phật Tử. Có thể vì sự bất mãn ngày càng tăng trên miền Bắc mà ông buộc phải để yên cho Lý Phật Tử hiện diện ở đồng bằng sông Hồng, và cũng có thể vì lý do này mà Phật Tử dám đưa quân ra khỏi vùng núi ông đang ẩn náu.
Cũng có giả thiết cho rằng việc Viên Đàm Hoãn, Thứ Sử Giao Châu, bí mật chuyển một số vàng đến cho Âu Dương Nguy, là một trong những kế sách của Triệu Quang Phục nhằm mua chuộc Âu Dương Nguy để chống lại Vương Lâm vì rất có thể việc nổi loạn của Vương Lâm đem lại lợi thế cho Lý Phật Tử. Viên Đàm Hoãn có thể là đại diện của Âu Dương Nguy tại triều đình Triệu Quang Phục và là trung gian tiếp xúc giữa Quang Phục với Âu Dương Nguy. Sau khi vụ Vương Lâm kết thúc, người kế vị Đàm Hoãn là Âu Dương Thịnh có thể đã tiếp tục vai trò ấy mặc dầu, theo sử sách, công việc duy nhất của ông được chép lại trong thời gian ông làm Thứ Sử lại là ở trên miền Bắc. Cũng có thể là thời kỳ này Viên Đàm Hoãn chẳng dính dáng gì đến tình hình ở Giao Châu cả. Trong những năm 560, những “sứ giả” được đổi xuống Giao Châu và lưu trú ở đó thì phần lớn chỉ là để hành nghề thương mại. Chúng ta có thể kết luận một cách hợp lý rằng, Triệu Quang Phục, bằng cách nào đó, đã liên minh với gia đình Âu Dương bởi vì theo sử liệu Việt Nam, ông mất ngôi vào lúc Âu Dương Hốt nổi dậy rồi bị giết chính vào lúc có cuộc viễn chinh của Nguyễn Trác.
Triệu Quang Phục mất ngôi được nhớ đến mãi qua một huyền thoại tương tự như An Dương Vương. Cả hai sự kiện đều gần giống như nhau ngoại trừ tên tuổi của người đóng vai chính, và chiếc móng rồng thay cho cái nỏ có lẫy làm bằng móng rùa. Theo lập luận nêu ra ở thế kỷ 6, người con trai của Lý Phật Tử là Nhã Lang cũng lấy con gái của Quang Phục là Cao Nương và được phong làm phò mã. Nhờ có Cao Nương nên Nhã Lang lấy cắp được móng rồng, mà theo truyền thuyết Chử Đồng Tử đã trao cho Triệu Quang Phục, và thay thế bằng một cái móng rồng giả. Sau đó Nhã Lang đem móng rồng thật về cho cha mình là Lý Phật Tử. Thế rồi chiến tranh lại tái phát, Triệu Quang Phục bị thua ở khắp mọi nơi vì không còn móng rồng thần nữa. Khi chạy ra tới bờ biển thì ông được thần rồng vàng nổi lên đón về Thủy cung.
Việc nhắc lại huyền tích cũ này hàm ý giải thích những thăng trầm của Triệu Quang Phục và khơi lại những gía trị văn hóa bản xứ Việt đã tồn tại trước khi bị Trung Quốc đô hộ cũng như những biểu tượng văn hoá đặc thù khác. Nhưng quan trọng nhất là việc lần đầu tiên Triệu Quang Phục lấy hiệu vua có ý nghĩa từ tiếng bản xứ chứ không dùng tên gọi theo ý nghĩa Trung Quốc như Lý Bí đã làm trước đó. Triều đại Triệu Quang Phục đã để lại ấn tượng sâu đậm trên tâm tư người dân bản xứ nhưng chỉ có Lý Bí và Lý Phật Tử được sử Trung Quốc nhắc đến, còn Triệu Quang Phục thì không. Họ Lý được Trung Quốc nói đến vì tổ tiên là người Trung Quốc và đã làm việc với Bắc Triều với tư cách là Phụ Tá Biên Thùy được bổ nhiệm. Rõ ràng họ Triệu đã đi sát với văn hoá bình dân bản địa và mang sắc thái riêng của Phật Giáo Giao Chỉ nên Trung Quốc không muốn nhắc đến.
Triều đại của Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục bị kết liễu có thể liên quan đến cuộc viễn chinh vào năm 570 của Nguyễn Trác. Vào thời gian này trong khi Triệu Quang Phục phải đối phó với mọi cuộc xâm lăng từ phương Bắc thì Lý Phật Tử lại được hưởng lợi từ những biến cố ấy. Lý Phật Tử có thể đã liên minh với Nguyễn Trác để chống Quang Phục, hoặc đơn giản rằng ông đã chỉ xuất hiện sau khi Quang Phục và Nguyễn Trác đã đẩy nhau vào tình trạng kiệt quệ. Những người Lao mà, theo sử liệu Trung Quốc, hay tụ tập nhau lại để cướp phá Giao Châu vào thời gian có cuộc viễn chinh của Nguyễn Trác, có thể đã có quan hệ với Lý Phật Tử vì những người Lao này đã từng liên minh với Lý Bí, họ hàng của Lý Phật Tử. Về sau, rất có thể Lý Phật Tử đã nhờ họ giúp đỡ để chống lại Triệu Quang Phục. Nếu đúng là như thế, ta có thể giả thuyết rằng cuộc chinh phạt của Nguyễn Trác là nhằm mục đích giúp Triệu Quang Phục, nhưng bằng chứng dẫn đến tình huống này lại quá ít nên không thể kết luận chắc chắn được.
Chùa Dâu còn gọi là chùa Pháp Vân tỉnh Bắc Ninh được xây khoảng thế kỷ thứ 3, tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu Việt Nam
Nhìn lại những truyền thống bản xứ có từ thời thượng cổ mà Triệu Quang Phục đã tìm cách khôi phục và bổ túc thêm thì chiều hướng văn hoá ở Giao Châu dưới thời kỳ Lý Phật Tử được xem như là thời Phật Giáo đầu tiên được Việt Nam hóa. Một thế kỷ trước đó, hoàng đế Cao của nhà Tề (479-482), người rất sùng đạo Phật, đã loan báo ý định gửi những phái bộ truyền đạo Phật từ Trung Quốc xuống Giao Châu nhưng Tăng Thiện, một nhà sư gốc Trung Á, đã khuyên vua Tề rằng:
“Đất Giao Châu đã đang tiếp xúc với Ấn Độ. Giáo lý của Phật chưa được truyền đến kinh đô Tề của ta mà hai chục công trình Phật Giáo đã được xây dựng ở Luy Lâm, Giao Châu với hơn 500 người quy y và thuộc làu làu 15 pho kinh Phật rồi… Như vậy gửi những phái bộ truyền đạo đến đó là không cần thiết. Thay vào đó chúng ta nên gửi các quan chức đến để thanh sát những chùa chiền, tu viện tại đó…”
Đây là thông tin duy nhất còn lưu lại nói về tình trạng Phật Giáo Việt Nam giữa thời Sĩ Nhiếp cho đến thế kỷ 6. Rõ ràng là Phật Giáo đã đạt được một vị trí vững vàng trong dân chúng Việt Nam thời đó.
Thế kỷ 6 là thời kỳ đặc biệt sáng sủa cho sự phát triển của Phật Giáo ở Việt Nam. Việc các khuynh hướng Phật Giáo ở Ấn Độ và Trung Quốc được hội nhập và phát triển một cách dễ dàng và sốt sắng ở Việt Nam là bằng chứng của sự trưởng thành và nghị lực của Phật Giáo Việt Nam. Chúng tôi đã nói đến kiểu tượng Phật Long Môn với nét điêu khắc được coi như là bằng chứng về việc Phật Giáo Trung Quốc du nhập và phát triển tại Việt Nam vào thời Lý Bí. Cũng có nhiều bằng chứng khác cho thấy mối liên quan trực tiếp hơn về việc tiếp xúc giữa Phật Giáo Trung Quốc và Việt Nam vào thế kỷ thứ 6.
Dưới triều đại Trần Bá Tiên (557-589), chưởng môn đời thứ 3 của giáo phái Thiên Thai là Trí Nghi (538-597) đi thuyết pháp, viết kinh và tìm cách hệ thống hóa giáo lý nhà Phật. Mang tính chiết trung và không nhất thống trong phương pháp nhưng những chủ thuyết của giáo phái Thiên Thai vẫn lan tràn rất nhanh trong dân gĩa Việt Nam. Tuy nhiên giáo thuyết này lại chẳng tạo ảnh hưởng được giai cấp cầm quyền Việt Nam nếu đem so sánh với môn phái ngồi trầm tư mặc tưởng mà tiếng Phạn gọi là Dhyana, tiếng Trung Quốc gọi là Ch’an, tiếng Nhật gọi là Zen và tiếng Việt gọi là Thiền.
Thiền đã du nhập vào Trung Quốc từ một nhà sư Ấn Độ tên là Bồ Đề Đạt Ma. Nhà sư này đã du hành đến Trung Quốc và ở lại Thiếu Lâm Tự trong nửa phần đầu thế kỷ thứ 5. Phần lớn những gì nói về đức Bồ Đề Đạt Ma đều là huyền thoại cả. Tương truyền rằng sau này một đệ tử của đức Đạt Ma là Tuệ Khả lại truyền giáo lý lại cho nhà sư Tăng Xán. Trong thời kỳ Phật Giáo bị ngược đãi dưới triều hoàng đế Vũ (561-577) của Bắc Chu, cư sĩ Tăng Xán phải ẩn náu trên một ngọn núi ở Hồ Nam.
Năm 574, một người đạo Bà La Môn từ miền Nam Ấn Độ tên là Tỳ Ni Đa Lưu Chi tức Vinitaruci du hành đến miền Bắc Trung Quốc. Đem hết tuổi trẻ và tâm huyết vào việc nghiên cứu Phật Giáo ở Tây Ấn Độ nhưng chưa thành chánh quả, Tỳ Ni Đa Lưu Chi quyết đi tầm sư học đạo thêm nữa. Trên đường đi ông đã tới ngọn núi mà Tăng Xán ẩn náu và đã bái Tăng Xán làm sư phụ. Sau đó Tăng Xán khuyên Tỳ Ni nên tiếp tục du hành về phương Nam vì tình hình bất ổn ở phương Bắc, và nhất là sự ngược đãi Phật Giáo đang hoành hành ở đó. Xuôi nam Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến Quảng Châu và được một người tôn sư trọng đạo là Trần Quân Cảo, Đô Đốc Quảng Châu từ 576 đến 578, che chở. Trong thời gian lưu lại Quảng Châu Tỳ Ni đã dịch hai cuốn kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc. Sau khi Trần Quân Cảo qua đời thì Quảng Châu lại trở nên hỗn loạn. Chính vì thế mà năm 580 Tỳ Ni Đa Lưu Chi lại một lần nữa xuôi Nam đến Giao Châu và tìm được nơi ẩn náu tại chùa Pháp Vân ở Luy Lâu, một trong bốn ngôi chùa đã được xây từ thời Sĩ Nhiếp. Suốt 14 năm trụ trì tại chùa Pháp Vân cho đến khi ông viên tịch tại đó vào năm 594, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã dịch thêm cuốn kinh thứ 3 và thu hút được nhiều đệ tử thọ giáo. Trong số các đệ tử mà ông quý mến nhất có nhà sư Pháp Hiển là người được ông truyền lại hết sở học mà ông lãnh hội được trước đó ở Tây Ấn Độ cũng như từ nhà sư Tăng Xán.
Sư Pháp Hiển, gốc ở Chu Diên và mang họ Đỗ. Việc Pháp Hiển có phải là hậu duệ của Đỗ Tuệ Độ, người đã cai trị Việt Nam hồi thế kỷ 4 và 5, hay không thì không rõ. Cũng cần biết rằng thiền pháp đã được đưa vào Việt Nam trước khi Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến Giao Châu, vì trước đó Pháp Hiển đã tu tập và đạt chánh quả với Quán Duyên, một thiền sư khác cũng ở chùa Pháp Vân. Tuy nhiên Pháp Hiển lãnh hội được cái “tinh hoa và cao siêu” của thiền pháp phần chính là từ đức Tỳ Ni. Sau khi đức Tỳ Ni Đa Lưu Chi viên tịch, Pháp Hiển cho xây ngôi chùa Chung Thiên trên núi Tu, khoảng 20 dặm về phía Tây Bắc thành Luy Lâu thuộc Bắc Ninh hiện nay. Pháp Hiển Thượng Sĩ viên tịch năm 626, sau khi đã truyền thụ thiền pháp cho hơn 300 đệ từ tất cả những gì Pháp Hiển đã học được từ thiền sư Quán Duyên và nhất là từ Sư Tổ Thiền Tông Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.
Việc du nhập Thiền Tông Phái một giáo phái mới, việc chấp nhận một vị sư phụ là người nước ngoài, việc xây dựng một ngôi chùa mới, và việc tụ tập bao nhiêu sư sãi sẽ không thể thực hiện được nếu không có một môi trường ủng hộ tôn giáo. Thêm vào đó còn cần một cộng đồng có đủ tư cách để giữ chân được một vị sư phụ đến từ nước ngoài, và đủ trưởng thành để đáp ứng và tiếp thu được sự hướng dẫn và dạy bảo của sư phụ người Ấn Độ ấy. Và trên hết cần phải có một lãnh tụ sùng đạo và có thực quyền để có thể bảo đảm điều kiện thái bình ở trong nước.
Lý Phật Tử chính là một lãnh tụ như thế. Tên của ông là Phật Tử, tức con Phật, đã phần nào nói lên điều này. Thật ra chưa chắc ông đã dùng đến tên ấy cho đến mãn đời vì có giả thuyết cho rằng Lý Hữu Vinh, viên “Thứ Sử Giao Châu”, mà năm 583 đã tiến voi triều cống nhà Trần chính là Lý Phật Tử. Lý Hữu Vinh có thể là một tên khác mà Lý Phật Tử đã dùng thời gian triều cống voi nhà Trần, lý do phải dùng tên khác vì ông không muốn tiết lộ tên thật cho Trung Quốc biết vì sự bất trắc của thời đại mà cũng có thể là vì kế sách ngoại giao. Chắc vì thế mà trong cảnh hỗn loạn đánh dấu cuộc chuyển tiếp quyền hành từ nhà Trần sang nhà Tùy năm 580-590, Lý Phật Tử được sử sách Trung Quốc gọi là Lý Xuân. Lý Bí đã đặt tên nước là Vạn Xuân nên trong thời gian rối ren ấy, tên họ của Lý Phật Tử có lẽ đã được ghép với tên nước Vạn Xuân để thành Lý Xuân chăng?
Thiền Tông Phái
Với ba chục năm dài trị vì, sử liệu Việt Nam đã tôn vinh Lý Phật Tử như một người có công rất lớn trong việc làm sáng tỏ được bối cảnh chính trị thời gian đó bằng việc tạo cơ hội cho Thiền Tông Phái du nhập và phát huy tại Việt Nam khi đức Tỳ Ni Đa Lưu Chi, người khai xướng thiền phái này, du hành xuống miền Nam để tìm một môi trường thái bình yên ổn có thiện cảm với Phật Giáo.
Cũng như trong các thời kỳ trước đó, mỗi khi có binh biến hoặc thay đổi triều đại ở Trung Quốc, Việt Nam lại được hưởng một thời kỳ thái bình và thịnh vượng dưới sự lãnh đạo của các lãnh tụ địa phương tài đức. Chính môi trường ủng hộ tôn giáo như đã nói ở trên đã lôi cuốn đức Tỳ Ni Đa Lưu Chi, khiến ông có thể yên tâm sáng lập được một tông phái mới ở Việt Nam mang tên ông. Phái Tỳ Ni hay còn gọi là Thiền Tông Phái là phái thứ nhất trong ba tông phái Thiền Phật Giáo chính trong lịch sử Việt Nam. Ba tông phái Phật Giáo Việt Nam này [Thiền Tông, Tịnh Tông, và Mật Tông] đã đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ độc lập sơ khai và kéo dài mãi cho tới thế kỷ 13.
Việt Nam khai quốc: nhà Tùy xuống miền Nam (chương 4, phần 5)
Tượng phụ nữ gốm trắng (đời nhà Tùy 581-618 AD)
Quan hệ của Lý Phật Tử với triều Trần Trung Quốc bên ngoài có vẻ hữu nghị nhưng chẳng bao giờ chặt chẽ vì thế lực bấp bênh của nhà Trần. Do đó quan hệ giữa đôi bên phần chính là chỉ qua việc giao thương. Theo sử liệu thì những năm đầu thập niên 570, Thái Ngung, một quan chức nhà Trần bị trục xuất và phải lưu vong chính trị ở Giao Châu. Đồng thời, một người khác tên là Đại Hoàng lại có tên trong danh sách làm Thứ Sử Minh Châu. Hai chuyện này có thể liên quan đến cuộc viễn chinh của Nguyễn Trác năm 570, nhưng thông tin lại quá mập mờ nên không thể kết luận gì thêm. Đến những năm 580 lại có một sử liệu khác nhắc đến hai đô đốc ở Giao Châu là Dương Tấn và Dương Hữu Phổ. Có thể là có quan hệ chính thức giữa hai đô đốc này với Lý Phật Tử, nhưng lại một lần nữa vì tin tức không đủ nên không thể kết luận một cách chắc chắn được. Quá khứ cho thấy cách hành xử của Trung Quốc là luôn phong các chức tước danh dự cho những người mà không bao giờ có mặt ở miền Nam, vì thế chúng ta có cơ sở để tin rằng vì Triều Trần đang gặp khó khăn nên đã phong các hư chức này nhằm mua chuộc sự trung thành của những người này mà thôi.
Các cuộc tranh giành quyền lực ở bắc triều đã nhanh chóng đến hồi kết thúc vào năm 581 khi Dương Khiêm lập nên nhà Tùy ở Bắc Trung Quốc nhưng mãi đến năm 589 thì nhà Trần mới chịu hoàn toàn quy thuận. Thế là lần đầu tiên sau hai thế kỷ rưỡi loạn lạc và tranh chấp nội bộ, Trung Quốc lại được thống nhất. Trước khi hoàn toàn thống nhất, quân nhà Tùy đã từng tiến hành các phiêu lưu quân sự khi tìm cách vượt qua được các dãy đèo cao để vào miền Nam nhưng bị các lực lượng tàn dư của nhà Trần chặn đánh. Chỉ sau khi vua Trần bị bắt và tuyên bố quy thuận hoàn toàn thì quân Tùy mới chiếm được châu Quảng.
Sau khi một đô đốc ở miền Nam thất bại trong việc tập hợp quân đội để ủng hộ một vị hoàng thân của nhà Trần thì nhà Tùy mới củng cố được địa vị ở châu Quảng và lần hồi được các châu lân cận quy hàng, đặc biệt là sau khi sự kháng cự của Thứ Sử Định Châu ở vùng bây giờ là Quảng Tây bị hoàn toàn đè bẹp. Nhưng chẳng yên được bao thì miền Nam lại vùng lên chống cự vì vào năm 590, theo sử liệu Trung Quốc: “Biên giới cũ (miền Nam) của nhà Trần bùng lên một cuộc kháng cự lớn lao với nhiều nhóm nổi dậy cấu kết với nhau, lớn thì có quân đội hàng chục ngàn người, nhỏ cũng vài ngàn. Họ bắt cóc các quan huyện; có người bị mổ, moi ruột gan, có người bị chặt ra từng khúc và ăn thịt”. Trong số các người cầm đầu cuộc nổi dậy có ba người tự xưng là “thiên tử” và thiết lập triều đình riêng; bảy người khác, tự phong là Đại Đô Đốc và cai trị các nơi. Trong số đó sử Trung Quốc có nhắc đến Lý Xuân ở Giao Châu, và chắc chắn đó là Lý Phật Tử.
Tướng quân nhà Tùy lúc đó là Dương Tố đem một đạo quân tiến xuống miền Nam. Ông đánh “hơn 700 trận, từ miền núi xuống đến bờ biển; tấn công và phá hủy biết bao nhiêu chiến lũy, nhưng cũng có nhiều công sự ông không vượt qua nổi”. Triều đình phải gọi ông về vì sợ ông quá mệt mỏi; nhưng ông xin ở lại, viện lẽ nếu chưa dẹp yên các loạn quân thì sẽ còn loạn lớn hơn nữa nếu ông bỏ về. Sau một loạt các trận đánh mới nữa do ông chỉ huy, tình hình được tạm yên. Nhưng rồi loạn lại tái phát khi một “nhà vua man di” bao vây quân Tùy ở Quảng Châu. Một đạo quân cứu viện được gửi xuống và đám loạn quân này cuối cùng cũng bị dẹp yên”.
Không có dấu hiệu nào cho ta thấy Dương Tố tiến đến Giao Châu bao giờ vì liên tiếp trong nhiều năm nhà Tùy hoàn toàn bận rộn tái lập an ninh ở những vùng đất mà bây giờ là Quảng Đông và Quảng Tây. Trong thời gian nhà Tùy đang dần dần củng cố quyền lực ở Quảng Châu thì Lý Phật Tử, bên trong thì tiếp tục củng cố thế lực ở Giao Châu, nhưng ngoài mặt vẫn phải chính thức công nhận quyền đô hộ của nhà Tùy.
Năm 595, mặc dù thế lực nhà Tùy vẫn còn bấp bênh nhưng ảnh hưởng của họ ở vùng biên giới đã mạnh lên nhiều nên sứ giả Lâm Ấp phải lên tận triều đình nhà Tùy để bái kiến. Sau khi dẹp xong được lớp quan chức trung thành với nhà Trần cũ, nhà Tùy bắt đầu tính đến chuyện đương đầu với các lãnh tụ bản xứ “man di” phi Trung Quốc, mà họ gọi là “Li”, trong đó có Lý Phật Tử. Có nhiều lãnh tụ bản xứ phi Trung Quốc như thế được nhà Tùy tạm thời nhân nhượng vì chính sách của nhà Tùy vào thời điểm đó là dần dần tìm cách thu hút các lãnh tụ địa phương này vào vòng quỹ đạo ảnh hưởng của họ.
Năm 597, Lý Quang Sĩ, lãnh tụ người Li ở Quế Châu thuộc Quảng Tây ngày nay, lại dấy binh nổi loạn. Nhà Tùy sai một đạo quân từ Bắc xuống để hỗ trợ cho đạo quân đã được tuyển mộ ở địa phương và dẹp yên được Lý Quang Sĩ. Nhưng cuộc nổi loạn thứ nhì lại bộc phát ở Quế Châu trong cùng năm ấy. Để giải quyết tình hình nhiễu nhương này tận gốc rễ, nhà Tùy đã có một kế sách mới là cử một quan chức tên Lịnh Hồ Hi với trách nhiệm dẹp yên cuộc nổi loạn ở Quế Châu cũng như quyền tổng chỉ huy quân sự bao trùm cả miền Nam, kể cả Giao Châu nơi Lý Phật Tử đang cai trị.
Hồ Hi được giao quyền “tiền trảm hậu tấu” và mau chóng tìm cách thu phục nhân tâm dân chúng địa phương bằng cách chứng tỏ ông ta là một người khoan dung, độ lượng, và thành thật. Sử Trung Quốc chép rằng các lãnh tụ địa phương họp nhau bàn bạc rằng: “Trước kia, tất cả các quan chức [bắc triều] đều đem quân lính ra khủng bố, áp bức chúng ta. Còn ông này lại kêu gọi chúng ta thi hành lẽ phải và ra bố cáo”. Vì hành động khôn khéo như thế, nên Hồ Hi được dân chúng địa phương tín nhiệm và hợp tác. Ông cũng tập hợp những người có học trong vùng và phái họ đi thiết lập đô thị, xây dựng trường học và giáo hoá dân chúng”. Chính sách mới này của Hồ Hi có sức lôi cuốn mạnh mẽ đến nỗi nhiều lãnh tụ địa phương, trước vẫn nghiêng về phe nổi loạn, nay cũng tự kiềm chế và tôn trọng ông. Một thủ lãnh người Li là Ninh Mãnh Lực được nhiều người biết tiếng vì lòng trung thành với Hồ Hi. Triều đình nhà Tùy phải khen ngợi Hồ Hi về việc ông thu phục được lòng trung thành của cả người man di.
Quan hệ giữa Lý Phật Tử và Lịnh Hồ Hi bề ngoài thì có vẻ mực thước nhưng thật ra chỉ là qua loa chiếu lệ. Hồ Hi, tuổi đã cao nên rất muốn được về hưu trí. Hơn nữa vì đã tiêu hao bao nhiêu tâm lực vào những hành động cấp thời nên ông không còn ý muốn, hoặc tìm cách để dẫm chân lên những đặc quyền của một người đã tạo được một thế lực vững chắc ở vùng biên giới xa xôi hẻo lánh như Lý Phật Tử.
Tuy nhiên, Hồ Hi vẫn quan tâm đến việc hành chánh như việc chấn chỉnh tên gọi các châu. Nhận thấy nhiều châu, huyện ở địa phương có tên trùng nhau, Hồ Hi đã tìm cách thống nhất các tên châu huyện thuộc thẩm quyền cai quản của ông. Khi Trần Bá Tiên ở miền Nam, ông đã nâng quận Tân Xương lên cấp châu và đặt tên là châu Hưng. Năm 598, Hồ Hi đổi tên châu Hưng thành châu Phong. Cũng năm ấy, ông đổi tên châu Hoàng, được thành lập năm 535 ở bờ biển phía Bắc Giao Châu, thành châu Lục và tên của châu Đức cũng được đổi thành châu Hoan. Những tên châu mới như châu Phong, châu Lục, và châu Hoan còn tồn tại mãi cho đến khi chế độ cai trị “châu” của Trung Quốc tại miền Nam chấm dứt. Thật ra việc đổi tên các châu như thế của Hồ Hi chỉ có tính cách văn học và không ảnh hưởng gì đến việc kiểm soát thực sự những nơi đó cả. Tên của nhiều huyện cũng được thay đổi nhưng sự thay đổi có ý nghĩa nhất đối với Việt Nam sau này là việc bãi bỏ quận Vũ Bình và đặt những huyện của quận Vũ Bình dưới quyền kiếm soát của Giao Châu.
Năm 600, Hồ Hi 61 tuổi nên viết thư gửi triều đình xin về hưu. Trong thư xin về nghỉ hưu ông viết: “Sức khoẻ của hạ thần nay chỉ cho phép làm được những việc nhẹ nên rất lấy làm áy náy. Thần thường tâm nguyện cần phải chấm dứt sự cố gắng thái quá của mình… Thần là một bầy tôi đã nhiều tuổi và tự nhận mình không còn dùng được nữa… ” Ông cũng viết về sự khó khăn khi phải tìm cách thay đổi những phong tục man di của dân chúng địa phương khiến ông đau ốm, mệt mỏi, mong muốn được trở về Bắc. Triều đình bác bỏ lời tâu xin của ông và lại gửi xuống cho ông thuốc men để chữa trị và tiếp tục công việc. Chính vào thời gian này, sự đụng chạm quyền lực không thể tránh khỏi giữa Lý Phật Tử và bắc triều bắt đầu hé lộ.
Trong khi sức khỏe Hồ Hi ngày càng đi xuống thì Lý Phật Tử ngày càng tỏ thái độ độc lập bất chấp quyền uy của bắc triều hơn. Là một lãnh tụ “Li” có thế lực và bền vững nhất ở biên giới nên Lý Phật Tử lại càng bị triều đình chú ý. Năm 601, Hồ Hi chuyển một chiếu chỉ của bắc triều cho đòi Lý Phật Tử về triều trình diện. Hiểu rằng đã đến hồi quyết liệt, Lý Phật Tử đã tìm kế hoãn binh bằng cách xin để đến sang năm, sau Tết. Hồ Hi đã tự chế và chuẩn y việc Lý Phật Tử xin trì hoãn ngày về triều diện kiến vì tin rằng ông vẫn giữ được lòng trung thành của Lý Phật Tử. Chính vì việc này nên có người vu cáo về bắc triều rằng ông đã nhận hối lộ của Lý Phật Tử nên triều đình nghi ngờ ông và Lý Phật Tử đã thông đồng với nhau. Khi Lý Phật Tử công khai nổi loạn vào đầu năm 602 thì Hồ Hi bị bắt và giải về Bắc nhưng vì tuổi già sức yếu ông mất ở dọc đường.
Sau khi công khai chống lại nhà Tùy, Lý Phật Tử đã chứng tỏ sự độc lập của Giao Châu bằng cách cho dời đô về thành Cổ Loa. Kinh đô cũ ở Chu Diên thì ông giao cho tướng Lý Phổ Định trông coi, và một mặt ông sai Lý Đại Quyền, cháu ông, về giữ thành Long Biên. Vì hai thành này đều nằm ở trung tâm Giao Châu, nơi chịu ảnh hưởng nhiều nhất của Trung Quốc nên quyết định dời về Cổ Loa và Long Biên của Lý Phật Tử có lẽ là một quyết định sáng suốt và có ý nghĩa. Theo sử liệu của Việt Nam thì vùng này xưa là đất Cổ Loa và Vũ Ninh là địa điểm nằm ở phần Đông Bắc đồng bằng sông Hồng. Sử liệu Việt Nam cũng nói rằng trước kia Triệu Quang Phục đã từng cai trị từ “hai nơi” đó, tức Cổ Loa và Vũ Ninh. Giờ đến Lý Phật Tử, ông cũng muốn chứng tỏ như thế bằng cách dời đô về “hai nơi” đó: Cổ Loa và Vũ Ninh. Xét về mặt địa hình nắm được Cổ Loa và Vũ Ninh là kiểm soát được toàn bộ khu vực ăn thông với nhau về cả địa lý và văn hoá. Cả hai thành Luy Lâu và Long Biên cùng nằm trong khu vực này, kể cả những chùa chiền có liên hệ đến sư tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi và đồ đệ thân tín nhất của ông là Pháp Hiển Thượng Sĩ.
Suốt 30 năm dài kể từ lúc Triệu Quang Phục bị đánh đổ cho đến lúc Lý Phật Tử đứng lên tiếp nối chống lại nhà Tùy, vùng này, tức là trung tâm xưa nay vẫn chịu ảnh hưởng của bắc triều và được hưởng một quy chế đặc biệt khi Lý Phật Tử còn ở Ô Diên, Tây Nam sông Hồng. Cuộc viễn chinh của Nguyễn Trác năm 570 có thể đã để lại một số những thương nhân và những kẻ phiêu lưu mạo hiểm đến từ miền Bắc Trung Quốc. Những người này, và một số ít nhân dân còn trung thành với Triệu Quang Phục có thể đã không muốn Lý Phật Tử dời đô về Cổ Loa. Đồng thời, cộng đồng Phật Giáo cũng đang phát triển và có thể có người ra làm việc với chính quyền địa phương ở đó. Chưa kể đến những người của nhà Trần, rồi của nhà Tùy, có thể vẫn còn lưu trú ở đây với tư cách đại diện thương mại hay quan sát viên chính trị. Thành ra khu vực này trở thành một vùng trái độn chính trị và văn hoá mà ở đó, cộng đồng Phật Giáo phát triển mạnh dưới sự canh chừng của những lãnh tụ Việt Nam cũng như của các quan chức bắc triều. Bằng cách công khai nắm quyền kiểm soát vùng ấy, Lý Phật Tử đã chứng tỏ một cách rõ ràng ý chí độc lập tự chủ của ông.
Hành động đầu tiên của nhà Tùy là hỏi ý kiến của Dương Tố, người nổi tiếng là một chuyên gia quân sự cao cấp có nhiều hiểu biết về vùng biên giới phía Nam do cuộc chinh phạt của ông năm 590. Dương Tố tiến cử Lưu Phương và giúp lập kế hoạch viễn chinh mà trong đó ý kiến của Lưu Phương tiến xuống Giao Châu qua ngả Vân Nam dường như có ý kiến của Dương Tố. Quyết định tiến quân qua ngả Vân Nam là để tăng cường yếu tố bất ngờ vì nếu cứ đi theo con đường cổ truyền qua Quảng Tây và Quảng Đông vào Giao Châu thì mỗi bước đi đều bị Lý Phât Tử theo dõi.
Lưu Phương lên đường từ Tràng An ở Bắc Trung Quốc với một đạo quân 27 tiểu đoàn. Mặc dầu là một tướng rất kỷ luật và nghiêm khắc, Lưu Phương lại được tiếng là rất bình dân với tướng sĩ của mình vì ông rất quan tâm đến những người đau ốm hay bị thương tích. Sau khi đi qua Tứ Xuyên, Lưu Phương đưa quân lên vùng cao của Vân Nam. Đến đây, viên chức coi việc dân sự ở trung tâm bị ốm nặng nên không đi được nữa. Vì muốn đến Giao Châu trước khi Lý Phật Tử biết được tin tức di chuyển của ông, nên Lưu Phương để một số quân sĩ ở lại với viên chức bị đau ấy và tiếp tục lên đường với những quân tinh nhuệ nhất.
Tới đèo Đỗ Long, một vùng ẩm ướt đầm lầy, giữa vùng sông Tích và sông Chảy nơi có đặt trạm tiền phương của khoảng 2.000 quân của Lý Phật Tử, Lưu Phương vội cho quân đi đường khác để tránh, và xuôi dòng sông Chảy mà tiến một cách bất ngờ vào tận trung tâm sát nơi Lý Phật Tử đóng đô. Vì không chuẩn bị để có thể chống lại một cuộc tấn công bất ngờ như thế, Lý Phật Tử đành nghe theo lời kêu gọi đầu hàng của Lưu Phương. Lý Phật Tử bị bắt giải về kinh đô nhà Tùy và chết già ở đó. Các cố vấn và bộ hạ của ông, “những người tàn bạo và gian dối xảo quyệt” theo lời người [Trung Quốc] viết hồi ký cho Lưu Phương, đều bị đem chém để ngăn ngừa hậu hoạn.
VIỄN ẢNH THẾ KỶ VI
Trong những chương đầu, chúng ta đã theo dõi sự vươn lên của các gia đình địa phương có thế lực ở Giao Châu. Đến đầu thế kỷ 6, những gia đình có thế lực ở địa phương này hầu như đã đạt được tự chủ hoàn toàn đối với triều đình Trung Quốc. Sau đó, khi Trung Quốc có ổn định chính trị trong thời gian trị vì lâu dài của Lương Vũ Đế, thì bắc triều lại tìm cách can thiệp vào các công việc của địa phương Giao Châu và hậu quả là việc nổi dậy đòi độc lập tự chủ của Lý Bí.
Lý Bí tiêu biểu cho sự phát triển tất nhiên và hợp lý của lớp cầm quyền địa phương thời kỳ đó. Lớp cầm quyền như vậy không thể làm gì hơn được là ganh đua với chính giai cấp thống trị ở Trung Quốc. Lý Bí cũng biết xưng đế, cũng lập một niên hiệu và tổ chức một triều đình theo kiểu Trung Quốc. Mặc dù cuộc trải nghiệm này chỉ kéo dài được có vài năm, nhưng nó đã khai mở nguồn cảm hứng và khát vọng về độc lập tự chủ cho những người Việt Nam nhiều thế kỷ sau đó.
Cuộc viễn chinh của Trần Bá Tiên đã đẩy các lãnh tụ nổi dậy địa phương vào hai phía: một bên là rừng núi với người Lao và một bên là vào vùng đầm lầy. Họ Lý chạy vào rừng núi và làm cho mọi người biết đến mình vì ông đã tự xưng làm vua và lãnh đạo cuộc chiến chống Trần Bá Tiên. Họ Triệu thì không được các sử gia Trung Quốc nhắc đến mặc dù ông đã được xã hội đông dân cư ở đồng bằng che đậy trong lối đánh du kích điển hình. Triệu Quang Phục gây dựng những quan niệm về vương quyền mang bản sắc địa phương trong khi Lý Bí thì cũng xưng vương nhưng theo những lý tưởng chính trị của bắc triều.
Thời kỳ này các lãnh đạo địa phương chỉ cần bắt chước một chút các hình thức Trung Quốc cũng gây phản cảm nơi dân Việt bản xứ vì họ đã quá chán ngán cái ách thống trị của bắc triều qua bao nhiêu thế kỷ. Do đó chất xúc tác duy nhất để có thể giúp người Việt ngồi lại với nhau chính là Phật Giáo, tôn giáo đã có vị thế vững chắc ở cả Trung Quốc và Việt Nam.
Phật Giáo Việt Nam đã trải qua ba thế kỷ phát triển với những nét đặc thù của người bản xứ. Mặt khác, Phật Giáo Việt Nam đã học hỏi được rất nhiều khi tiếp xúc với Phật Giáo ở nhiều nơi, đặc biệt là với Phật Giáo Trung Quốc. Triều đại Lý Phật Tử và việc sáng lập giáo phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đến vào lúc kết thúc một thế kỷ đặc biệt sáng tạo trong lịch sử Việt Nam như một viên gạch lót đường cho việc tiến dần tới độc lập tự chủ trong thế kỷ 10 và 11.
Thế kỷ 6 là một bài toán hóc búa cho các sử gia vì vừa phải đánh giá các nguồn sử liệu, vừa phải tìm cách giải thích những sự kiện nhiều khi quá mông lung như thế. Sự thiếu vắng những tài liệu về phía Trung Quốc buộc chúng ta phải xem xét những nguồn sử liệu Việt Nam, nhưng điều rõ rệt là sử liệu Việt Nam lại cung cấp những nguồn tin khác hẳn với nguồn sử liệu Trung Quốc. Thay vì bác bỏ các sử liệu Việt Nam vì không thể phối kiểm hoặc đối chiếu với sử liệu của Trung Quốc, chúng ta phải cố gắng tìm hiểu xem những tài liệu ấy nói gì, vì rõ ràng các sử gia Trung Quốc không biết được những gì đã diễn ra sau đó tại Việt Nam trong suốt thời gian từ lúc Trần Bá Tiên trở về Bắc vào năm 548 cho đến khi Lưu Phương đem quân tiến xuống miền Nam và đánh bại Lý Phật Tử vào năm 602.
Những thông tin được nói đến trong sử liệu Việt Nam đã được truyền lại đời này đến đời kia thêm ba thế kỷ nữa dưới ách thống trị của Trung Quốc trước khi họ được ghi lại một cách chính thức khi họ giành được độc lập thực sự vào thế kỷ thứ 10. Các sử liệu này được lưu trữ trong đền thờ các danh nhân như đền thờ Lý Phật Tử, đền thờ Triệu Quang Phục, hay những người có công với đất nước khác ở cấp thấp hơn. Những người ấy là những anh hùng liệt nữ mà tiểu sử của họ đã sống vượt thời gian và được kể lại tỉ mỉ từ qua nhiều thế hệ. Những anh hùng liệt nữ này tiêu biểu cho một tư duy bản xứ về quyền lực trong văn hoá Việt Nam.
Khi đi tìm ý nghĩa của thế kỷ 6 đối với lịch sử Việt Nam chúng ta cần phải nhìn vào cả quá khứ lẫn tương lai. Những biến cố xảy ra trong khoảng thời gian này được coi như một cánh cửa mà người Việt Nam, từ cái thời phải chịu ách thống trị của Trung Quốc, băng qua bao nhiêu thế kỷ để tiến tới thời kỳ độc lập. Lý thuyết về quyền lợi chính trị được cho là của Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử thật ra đã có từ thời văn hoá Lạc trong tiền sử. Lạc Long Quân trở về từ biển, trao cho con dân một cái móng, tượng trưng cho quyền lực của mình, hầu bảo vệ đất nước. Việc sở hữu một cái móng rồng sau đó càng làm rõ nét hơn sự nổi dậy kế tiếp của Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử. Việc chuyển cái móng từ người này qua người khác là theo một khuôn mẫu huyền tích sẵn có về hôn nhân và phản bội.
Nhìn từ một khía cạnh khác, sự tiến hoá chính trị theo 3 giai đoạn của Việt Nam trong thế kỷ 6 là một điềm báo trước cái gì nhất định sẽ phải đến vào thế kỷ 10 và 11, khi nền độc lập được thành tựu và củng cố. Giai đoạn một, các đại gia đình lớp thượng lưu mà phần lớn di cư từ miền Bắc đã nổi dậy giành độc lập, cắt đứt giây ràng buộc với bắc triều mặc dầu vẫn duy trì những nét văn hoá và chính trị theo kiểu Trung Quốc. Giai đoạn 2, lớp thượng lưu bị thách thức bởi sự xuất hiện của các lực lượng bản xứ; những lực lượng này ủng hộ những truyền thống mang nét đặc thù Việt Nam về quyền hành. Giai đoạn ba, cộng đồng Phật Giáo nổi lên như một trung gian giữa hai quan điểm ấy. Ba giai đoạn này theo thứ tự lần lượt được lập lại trong thời kỳ bắt đầu nền độc lập và tượng trưng một tiến trình thích hợp mà nhiên hậu là gạt bỏ quyền lực Trung Quốc.
Chính vì thiếu các thông tin chắc chắn về thế kỷ 6 khiến chúng ta đề cao khả năng phân tích và tổng hợp của các sử gia nhằm phản ánh được cả quá khứ lẫn tương lai và đồng thời để có thể trình tự hóa được những biến cố. Nhưng chúng ta cũng phải khẳng định rằng đã có một dạng sử theo kiểu lưu truyền trong trí óc của tập thể Việt Nam thời đó. Chúng ta cũng không thể cho rằng trong hơn một nửa thế kỷ được tự do, thoát khỏi bàn tay thống trị của Trung Quốc mà Việt Nam lại không có gì đáng ghi nhớ xảy ra. Những nguồn sử liệu Việt Nam nhất định phải phản ánh những biến cố thực sự một cách chi tiết hay ít nhất cũng phải qua những nét đại cương.
Đoạn văn được trích dưới đây để kết thúc thời kỳ mà Việt Nam đang tìm cách thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc sau đây đã làm hài lòng không ít những nhà đạo đức trong bao nhiêu thế kỷ. Dương Tấn, người sáng lập nhà Tùy, thường nghe kể lại số của cải khổng lồ mà Trung Quốc đã tước đoạt của nước Lâm Ấp vào năm 446, nên rất muốn một ngày nào đó được trang hoàng vương triều của ông bằng những kho tàng châu báu lấy được của vương quốc miền Nam xa lạ ấy. Sau khi Lưu Phương lấy được Giao Châu, Dương Tấn ra lệnh cho ông tiến xuống chinh phục Lâm Ấp lần nữa. Nhưng vị vua này đã không sống lâu đủ để có thể nếm thành quả của cuộc chinh phục ấy vì ông mất vào năm 604, trước khi cuộc viễn chinh bắt đầu.
Tuy nhiên đến năm 605, Lưu Phương tiến quân xuống Nam và sau trận chiến thường lệ bằng voi, đã chiếm được kinh đô Lâm Ấp ở vùng Trà Kiệu, gần Đà Nẵng ngày nay. Đúng như Trung Quốc mong đợi, chiến lợi phẩm mà họ cướp được hằng hà sa số gồm có 18 tấm bia bằng vàng để thờ làm bài vị 18 vị vua tiền nhiệm của người Lâm Ấp, một thư viện Phật Giáo gồm 1350 bộ kinh viết bằng chữ địa phương và một dàn nhạc của một vương quốc ở lưu vực sông Cửu Long.
Sau khi dựng tấm bia kỷ niệm chiến thắng của mình, Lưu Phương kéo quân về, mang theo toàn bộ chiến lợi phẩm lấy được. Nhưng dọc đường, bệnh dịch hoành hành đã tàn sát hết đạo quân Tùy và thần Chết cũng không tha cả Lưu Phương. Định mệnh dường như đã trừng phạt đích đáng một cuộc chinh phạt vô cớ mà động lực chính chỉ là lòng tham vô đáy.
Lời phê bình có lẽ sâu sắc và thấm thía nhất về chuyện động binh vì tham lam này là của vị vua nho học uyên bác nhưng không có thực quyền của Việt Nam là Tự Đức (1847-1883) vì lúc đó giang sơn đất nước ông đang bị người Pháp chiếm, vua Tự Đức viết:
“Quân đội là một dụng cụ tàn ác mà, cực chẳng đã, người khôn buộc phải dùng đến để chống lại bạo ngược hay để bảo đảm cho dân chúng được sống trong cảnh thái bình. Cứ xét như thế thì làm sao người ta có thể cho phép mình chạy theo những ham muốn dơ bẩn về của cải, làm sao có thể cho phép mình một sự thoải mái mà gây ra cảnh thương tâm đau khổ cho người khác phải chịu, và tàn phá sức mạnh của cả một quốc gia? Cổ nhân đã nói: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Tưởng không cần phải giải thích thêm về câu này, bằng chứng hùng hồn là việc tướng quân nhà Tùy [người đem quân đi cướp bóc Lâm Ấp] đã không tránh khỏi cái chết và cả triều đại nhà Tùy rồi cũng sụp đổ sau đấy không bao lâu. Đây là một bài học có giá trị cho các sĩ tử suy ngẫm về cách sử dụng quân đội sao cho đích đáng”.
Phản ứng của vua Tự Đức hết sức rõ ràng và nghiêm khắc. Có lẽ ông đã hiểu rất rõ rằng chính vì lòng tham lam của Trung Quốc cũng như của Pháp đã gây ra bao nhiêu đau khổ cho dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử. Lời lên án uyên thâm của vua Tự Đức đã trở thành “kinh nhật tụng” cho giới sĩ phu Việt Nam khi họ lui về ở ẩn đọc sách [thay vì nổi dậy] trong thế kỷ 19 trước ách xâm lược của thực dân Pháp. Lời lên án này không phải không có căn cứ nếu chúng ta nhìn lại lịch sử Việt Nam. Điều mà vua Tự Đức phê phán về cuộc chinh phục Lâm Ấp của nhà Tùy cũng được phô bày rõ ràng trong chính sách đô hộ của các triều đại Trung Quốc trước đó đối với Việt Nam, và cho cả chính sách thuộc địa của nước Pháp vào chính thời ông đang sống.
Mặc dù hứa hẹn về một nền độc lập của Việt Nam thế kỷ 6 đã bị mai một bởi việc hồi sinh của quyền lực Trung Quốc. Đối với Trung Quốc, đây là việc làm sống lại nền văn hóa Đại Hán bằng việc đi khai hóa các dân “man di mọi rợ” ở phương Nam. Đối với Việt Nam thì đó lại là thời kỳ mà sự thèm khát ngàn đời của Trung Quốc đối với phương Nam lại vừa sống dậy. Về lâu dài về dài các thử thách trong việc mưu tìm độc lập tự chủ của người Việt, mặc dù bất thành, trong thế kỷ 6 vẫn được bảo tồn và tiếp nối. Tuy nhiên các truyền thống tốt đẹp này thường không được kế thừa bởi các tầng lớp thượng lưu và giới sĩ phu vì, như vua Tự Đức, họ thích nghiền ngẫm kho sách [lý thuyết] hơn là quân đội [các giá trị thực tiễn] mà họ đã được thừa hưởng từ những cuộc đấu tranh giành độc lập của các anh hùng liệt nữ vậy.
Việt Nam khai quốc: An Nam đô hộ phủ (chương 5, phần 1)[1]
KHÂU HOÀ
Cũng như triều đại Tấn 800 năm trước đó, triều đại nhà Tùy có những dấu hiệu báo trước sẽ là một vương triều lớn. Giết chính cha mình là Tùy Văn Đế để tiếm ngôi vào năm 604, Tùy Dạng Đế đã làm kiệt quệ đế quốc non trẻ bằng những cuộc chiến tranh, những dự án xây dựng tốn kém, và bằng một lối sống vương giả xa hoa phù phiếm vô độ. Năm 615, Tùy Dạng Đế suýt nữa thì bị người Thổ Nhĩ Kỳ bắt sống. Sau đó quyền hành của ông bị suy sụp và đế quốc nhà Tùy bị chia năm xẻ bảy thành những cát cứ. Năm 618, Lý Uyên cướp được kinh đô Trường Sa và lập triều đại nhà Đường. Cũng như trong các kỷ nguyên trước đó, mỗi khi có một triều đình sụp đổ và một triều đại khác lên thay ở Trung Quốc là Việt Nam lại hưởng thái bình được ít lâu dưới tài lãnh đạo của các thủ lĩnh địa phương. Người đem lại thái bình cho miền biên giới phía Nam lúc đó chính là Khâu Hoà.
Ra đời vào năm 551 ở Lạc Dương, khi còn niên thiếu Khâu Hoà theo thân phụ, một tướng quân, luyện rèn võ nghệ nhưng khi trưởng thành, ông quan tâm nhiều hơn đến hành chánh dân sự và bắt đầu sự nghiệp dưới triều nhà Châu. Dưới triều đại nhà Tùy, Khâu Hòa được bổ nhiệm cai quản nhiều huyện ở miền Hoa Bắc nơi ít có rối ren, loạn lạc vì ông nổi tiếng là người có đức tính khoan dung độ lượng.
Cuối thời trị vì của Tùy Dạng Đế, khắp nơi dân chúng nổi lên chống lại những hành động bóc lột áp bức của các thái thú ở miền Nam. Tình hình chỉ yên ổn trở lại khi triều đình phương Bắc tức tốc gửi những quan chức, được coi là lương thiện và thanh liêm, đến thay thế các thái thú tham ô. Trong những quan chức nhà Tùy mới đến miền Nam nhậm chức này có Khâu Hoà, mặc dầu lúc đó ông đã bước vào tuổi lục tuần.
Từ năm 604 nhà Tùy đã hạ quy chế tất cả các châu xuống cấp quận do đó lãnh thổ Việt Nam được chia thành ba quận nằm gọn trong một châu. Quận Giao Chỉ gồm toàn thể đồng bằng sông Hồng; châu Ái lại một lần nữa được gọi là Cửu Chân; và châu Đức mà năm 598 được Lịnh Hồ Hi cải tên là châu Hoan, nay trở thành quận Nhật Nam. Quá về phía nam, ba quận ngoại vi được thành lập từ những vùng đất vừa chiếm được của Lâm Ấp vào năm 605.
Bảng 3. HỒ SƠ HÀNH CHÁNH ĐỜI TẤN, TỐNG VÀ TỀ
Số Huyện: TẤN (265-419) TỐNG (420-478) TỀ (479-501)
____________________________________________________________
Quảng Châu 68 136 188
Việt Châu ….. 7 55
Giao Châu 53 53 52
_________________________________________________________________
Số Hộ Dân: (nhà Tề không có)
Quảng Châu 43,120 49,726
Việt Châu …… 938
Giao Châu 25,600 10,453
_________________________________________________________________
Số Hộ Dân ở Giao Châu: (nhà Tề không có, nhà Tống không đủ)
Quận:
Hợp Phố 2,000 …..
Giao Chỉ 12,000 4,233
Tân Xương 3,000 …..
Vũ Bình 5,000 1,490
Cửu Chân 3,000 2,328
Cửu Đức ….. 809
Nhật Nam 600 402
_________________________________________________________________
Tài liệu: Tấn Thư: trang 15; 8b; 9b; Tống Thư: 38. 23b-44b; Nam Tề Thư: 14-20a 28b.
| Bảng 4. THỐNG KÊ DÂN SỐ GIAO CHÂU ĐỜI NHÀ TÙY | |
| Quận | Số Hộ Dân |
| Giao Chỉ (đồng bằng sông Hồng) | 30.516 |
| Cửu Chân (đồng bằng sông Mã) | 16.135 |
| Nhật Nam (đồng bằng sông Cả) | 9.915 |
| Tổng Cộng: | 56.566 |
Tài liệu: Tùy thư, 31, 12b-13a
Mặc dầu chẳng tồn tại được hết đời nhà Tùy, cơ cấu hành chánh này giúp chúng ta hiểu được rằng các số liệu trong bảng thống kê dân số, như được trình bày trong bảng 4, là nhằm giúp nhà Tùy thu thuế vào thời này. So sánh các con số trong bảng 3 (Chương 3) với bảng 4 cho thấy nhà Tùy đã cai trị miền Nam tương đối hiệu quả hơn. Mặc dù chi tiết về việc nhà Tùy đã cai trị miền Nam thế nào vẫn còn nhiều nghi vấn, nhưng điều chắc chắn rằng nhà Tùy đã tìm mọi cách để đàn áp những đại gia đình địa chủ địa phương. Số hộ khẩu gia tăng trong bảng 4 chứng tỏ các cố gắng của nhà Tùy trong việc thực thi chính sách “bình đẳng” ruộng đất ở Việt Nam. Mục tiêu chính của công cuộc cải cách ruộng đất này là chia đất cho những người nông dân chịu đóng thuế cho nhà Tùy để họ được có tên trong sổ hộ khẩu. Còn đối với những người không được chia đất thì họ sẽ trở thành những tá điền (không có tên trong sổ hộ khầu) và phải đi làm công cho những địa chủ.
Sử liệu duy nhất còn tồn tại cho thấy chính sách sưu cao thuế nặng của nhà Tùy, qua việc ban chức tước đặc biệt cho các “lãnh tụ” địa phương là những người sẵn sàng tiếp tay nhà Tùy vơ vét các phẩm vật quý giá như ngọc trai, chim trả, ngà voi, sừng tê giác như một hình thức thu thuế gián tiếp ở miền Nam.
Trong khi trung tâm hành chánh của Giao Chỉ nằm ở Long Biên thì một đô đốc của Giao Châu lại đóng bản dinh ở Tống Bình gần Hà Nội ngay nay với quyền hành bao trùm khắp miền biên giới [mà theo sử Trung Quốc là “để kiểm soát bọn man di từ tất cả những tiểu quốc phía nam, phía tây Giao Châu, và những cư dân trên các hòn đảo ở ngoài biển lớn… thường đến bằng tàu qua những hải trình rất dài… đem tới những hàng hoá qua ngả Giao Chỉ như họ đã từng làm từ thời Hán Vũ Đế…”
Sách chép rằng khi Khâu Hoà đến Giao Chỉ, ông “vỗ về tất cả những anh hùng địa phương và thu phục được sự tin cậy của bọn man di; tất cả những tiểu quốc ở phía tây Lâm Ấp đều đem đến nộp cho ông những phẩm vật quý hiếm như hạt trai, sừng tê giác, vàng và những đồ quý xứng đáng với một vị hoàng đế”. Sự thành công của Khâu Hoà trong cách cai trị khiến ông được nhắc đến sau này như là một vị tổng quản nhân từ và đồng thời cũng phản ánh thế giới hàng hải phồn thịnh ở miền biển phía nam nơi từng đem lại thịnh vượng và chiếm ưu thế trong nền kinh tế địa phương từ thời Sĩ Nhiếp.
Khi nhà Tùy không còn kiểm soát được đế quốc của mình nữa thì các lãnh tụ địa phương lại bắt đầu nổi lên. Khởi đầu là Tiêu Thiết, hậu duệ nhà Lương ở lưu vực sông Dương Tử, tự xưng vương và thiết lập triều đình riêng. Kế đến là Lâm Sĩ Hoàng, nổi lên ở phía Đông Trung Quốc, cướp ngôi vua và tập hợp một số thuộc hạ cùng chung mộng đế vương, trong đó có một người tên là Phùng Áng.
Có cha từng theo quân nhà Tùy xuôi nam và mẹ là một phụ nữ địa phương có quê quán bây giờ là vùng bờ biển Quảng Đông, Phùng Áng khi trưởng thành đã từng làm quan trấn nhiệm ở miền Tây Bắc Trung Quốc trong thời nhà Tùy. Khi nhà Tùy sụp đổ, Phùng Áng quay về quê mẹ và kiểm soát được vùng Quảng Đông và phía đông Quảng Tây ngày nay. Còn miền tây Quảng Tây thì nằm dưới quyền kiểm soát của Ninh Trường Chân là người theo phe Tiêu Thiết.
Khâu Hoà đứng bên ngoài tất cả những quan hệ chính trị kể trên. Khi các sứ giả của cả Tiêu Thiết lẫn Lâm Sĩ Hoàng đến yêu cầu ông hợp tác, Khâu Hoà đều từ chối, vì trong thâm tâm ông vẫn chưa muốn tin rằng nhà Tùy đã thật sự chấm dứt. Tiếng đồn vì sự giàu có của Khâu Hòa khiến miền Bắc thèm muốn, vì thế Tiêu Thiết ra lệnh cho Ninh Trường Chân đem quân chinh phạt miền Nam. Lúc đầu Khâu Hòa đã chuẩn bị quy thuận, nhưng một quan chức của ông là Cao Sĩ Liên lên tiếng khuyên ông rằng: “Mặc dầu Ninh Trường Chân đông quân, nhưng y phải đi đường xa mà đến, nên xét về quân lương tiếp liệu thì y không thể ở lâu được. Trong khi đó, chúng ta có binh sĩ được huấn luyện, có pháo lũy phòng thủ tốt, và có đầy đủ lương thực thì cớ sao lại phải đầu hàng khi chỉ mới nghe thấy lời đồn đại?”
Cho là phải, Khâu Hoà bèn giao cho Cao Sĩ Liên tổ chức phòng thủ, và quả nhiên quân đội Ninh Trường Chân đã bị đánh bại dễ dàng. Mãi đến khi Khâu Hoà biết được rằng Tùy Dạng Đế đã bị giết vào năm 617 và triều đại nhà Tùy đã thực sự chấm dứt với việc thành lập nhà Đường vào năm 618 thì ông mới chịu quy phục Tiêu Thiết.
Nhưng đến năm 622, khi Tiêu Thiết bị nhà Đường đánh bại thì Khâu Hoà lập tức xin quy thuận triều Đường và được bổ nhiệm ngay làm Đại Tổng Quản Giao Châu cùng với việc Cao Sĩ Liên thân hành lên tận kinh đô nhà Đường để chính thức hoá việc quy phục của Khâu Hoà. Lúc này Khâu Hòa đã 71 tuổi nên chẳng bao lâu sau ông trở về miền Bắc Trung Quốc và hưởng già ở đó cho đến năm 86 tuổi.
Khâu Hoà đã đem Việt Nam đến với nhà Đường trong những điều kiện hoà bình và thịnh vượng. Nhờ đó mà các tổng quản và thứ sử sau này của nhà Đường có được nền móng tốt để tiếp tục củng cố sự cai trị ở miền Nam. Nhà Đường, với thái độ hòa hoãn lúc ban đầu, đã không phải đương đầu với một dân tộc Việt lộ vẻ thù hằn khi bị chinh phục, một dân tộc đang thịnh vượng, có trình độ văn hoá cao và một hệ thống chính trị ổn định đủ để trở thành chư hầu của đế quốc một cách êm thấm mà không cần dùng đến vũ lực.
Vai trò của Khâu Hoà ở Việt Nam từ lúc nhà Tùy tan rã cho đến khi nhà Đường lên ngôi khác hẳn với cái khuôn khổ cũ trước đó khi các gia đình địa phương thường nắm thế chủ động. Có nhiều lý do để tin rằng nhà Tùy đã vô hiệu hoá được giới lãnh đạo địa phương ở miền Nam sau khi Lý Phật Tử quy hàng. Mặc dù không có số liệu chính thức, rất nhiều bộ hạ của Lý Phật Tử đã bị nhà Tùy giết, và không ít lãnh đạo địa phương đã phải cúi đầu quy thuận với những hứa hẹn đi đôi với những lời đe dọa. Điểm cần chú ý ở đây là sau những tranh chấp quyền lực và suy yếu vì chia năm xẻ bảy, Trung Quốc lại một lần nữa thống nhất, lại phô trương thanh thế và bành trướng sức mạnh như họ đã từng làm trong quá khứ với các lân bang. Đấy là lúc Trung Quốc bắt đầu một thời đại mới.
TỔ CHỨC ĐÔ HỘ PHỦ
Năm 622, nhà Đường bắt đầu phân chia lãnh thổ Việt Nam ra thành nhiều châu nhỏ dưới quyền kiểm soát của hai Tổng Quản Phủ. Tổng Quản Phủ quan trọng thứ nhất được đặt ở vùng phụ cận Hà Nội bây giờ với quyền hành bao trùm 12 châu (Giao, Phong, Chi, Ái, Hoan, Diễn, Trường, Lục, Thang, Võ An, Võ Nga, và Phúc Lộc) gồm 59 huyện trong đồng bằng sông Hồng và sông Mã. Tổng Quản Phủ quan trọng thứ hai được đặt ở đồng bằng sông Cả với quyền hành bao gồm các châu ở vùng biên giới cực nam. Mặc dù châu Ái nằm dưới quyền Tổng Quản Phủ phía bắc, nó vẫn chiếm một địa vị ưu việt so với các châu khác trong đồng bằng sông Mã.
Việc gia tăng con số các châu lúc ban đầu dường như nhắm mục đích xác định các vùng tập trung dân cư trọng yếu nhưng những năm kế tiếp, tổ chức hành chánh này lại thay đổi liên miên. Địa vị của các quan thứ sử nhà Đường đứng đầu mỗi châu được củng cố rất nhiều vì càng ngày họ càng quen thuộc với dân chúng và thông thạo tình hình địa phương.
Đầu năm 627, để đáp ứng những đòi hỏi về cải cách hành chánh theo lệnh của tân Hoàng Đế Đường Thái Tôn, con số các châu lại bị giảm thiểu hơn nữa. Năm 628, các Tổng Quản Phủ được đổi thành các Đô Đốc Phủ, dưới quyền các Đô Đốc, một hình thức cai trị đối với các khu vực nằm ngoài lãnh thổ chính quốc. Trong 50 năm sau đó, một cơ cấu phát triển hành chánh mới đã được nhà Đường thực nghiệm tại miền Nam mà đỉnh cao là việc Đường Cao Tông lấy lại tên An Nam Đô Hộ Phủ vào năm 679.
Các đô hộ phủ được đặt dưới quyền cai trị của các Kinh Lược Sứ mà sau đổi thành Tiết Độ Sứ, một chức vụ hành chánh nhà Đường đặt ra để cai trị các dân tộc “man di” hay phi Trung Quốc ở các vùng biên giới. Việc thành lập An Nam Đô Hộ Phủ phần nào phản ảnh mối quan ngại về việc kiểm soát chặt chẽ việc cai trị ở vùng biên giới sau khi nhà Đường bị người Tây Tạng đánh cho một trận tan tác tại Trung Á vào năm 678.
An Nam Đô Hộ Phủ là một trong số bốn vùng đất bị đặt dưới ách đô hộ của Trung Quốc như: An Tây Đô Hộ Phủ ở lưu vực sông Tarim; An Bắc Đô Hộ Phủ ở Mông Cổ; và An Đông Đô Hộ Phủ ở biên giới Cao Ly tức Triều Tiên bây giờ.
Hình thức và con số những châu đặt dưới quyền đô hộ phủ thỉnh thoảng lại thay đổi, nhưng có 8 châu đáng được coi là quan trọng nhất vì sau này 8 châu này sẽ trở thành lãnh thổ trọng tâm của một nước Việt Nam độc lập.
Biên giới phía nam được tính từ châu Hoan, nằm trong vùng hạ lưu sông Cả. Châu Hoan còn có thẩm quyền trên một số những “châu độn” được lập ra để “kiềm chế” những dân bộ lạc ở các vùng núi lân cận. Những “châu độn” này chỉ cao hơn các chức tước nhà Đường ban cho các thủ lãnh bộ lạc ở trong núi một chút để nhằm khuyến khích họ hợp tác.
Cuộc cải cách hành chánh năm 627 không trực tiếp tác động đến châu Hoan, ngoại trừ việc thay đổi tên của vài châu và bãi bỏ hai huyện. Ngược lại với tiến độ cải cách hành chánh ở phía bắc khi con số các châu bị giảm bớt, việc cải cách hành chánh theo lối nhà Đường ở châu Hoan tiến hành chậm hơn vì phải mất nhiều thì giờ phân định ranh giới đối với những châu mới được thành lập sau năm 627.
Năm 628, sách chép là Lâm Ấp được “vỗ về và an ủi” dẫn đến việc thành lập châu Kinh ở biên giới phía nam của châu Hoan. Năm 635, Lâm Ấp lại được “vỗ về và an ủy” để lập thêm một châu nữa là châu Lam cũng ở phía nam châu Hoan. Hai châu mới ở vùng biên giới này đều nằm ở vùng giáp ranh rặng Hoành Sơn[2]. Sau đó hai châu này bị bãi bỏ vào cuối thế kỷ vì dường như việc thành lập hai châu này chỉ là một bước thử nghiệm để quan sát và nghiên cứu vùng biên giới Lâm Ấp mà thôi.
Chỉ mãi sau này việc cải cách hành chánh vùng biên giới Lâm Ấp mới được chính thức hóa bằng việc thành lập châu Phúc Lộc từ khu vực mà những người “Lao không văn minh” đã bị di dời vào thế kỷ thứ 6 trước đó. Đầu năm 683, những người “Lao không văn minh” này lại được nhà Tùy “chăm chút và vỗ về” với kết quả là việc kết hợp huyện Phúc Lộc vào châu Đường Lâm hiện có và lấy tên là châu Phúc Lộc vào năm 669. Châu Đường Lâm, được lập không lâu trước đó, bằng cách nhập huyện Đường Lâm vào một huyện cũ khác, có từ thời nhà Tùy khi được tách ra khỏi châu Hoan. Với đà bành trướng như thế nhà Đường đã dần dần thiết lập được sự kiểm soát vững chắc trên toàn vùng duyên hải chiến lược này.
Năm 635, châu Sơn, gồm một tiền đồn quân sự với dân số khoảng trên 5.000 người, được thành lập dọc theo thượng lưu sông Cả, ven vùng đồng bằng Trấn Ninh (cánh đồng Chum). Châu Diễn, nguyên thủy nằm ở dọc bờ biển bắc châu Hoan, nhưng vào khoảng năm 650 thì bị bãi bỏ để sát nhập vào châu Hoan. Vào khoảng năm 764, châu Diễn được tái lập thành một châu riêng biệt và châu Sơn lại bị bãi bỏ để nhập vào châu Diễn. Nhiên hậu châu Diễn gồm có vùng duyên hải phía bắc châu Hoan với toàn bộ vùng thượng lưu sông Cả.
Năm 622 châu Ái là một trong số 8 châu được lập tại các vùng sâu, vùng xa của đồng bằng sông Mã. Năm 627, tám châu này được kết hợp lại thành 2 châu; và đến năm 636, châu Ái lại nhập nốt những châu còn lại. Nằm ở vị trí chính giữa Đô Hộ Phủ, Châu Ái không phải chịp áp lực hoàn toàn của Trung Quốc như vùng đồng bằng sông Hồng ở phía bắc; đồng thời, lại có châu Hoan giúp chống đỡ những áp lực của những châu ở ngoại vi từ biên giới phía nam. Điều này khiến cho châu Ái gạn lọc được những tinh túy tiếp thu được từ bên ngoài. Và có lẽ đó cũng là lý do tại sao châu Ái lại nổi lên ở thế kỷ 10 như là một trung tâm gốc rễ và lâu bền nhất của các hoạt động chính trị đưa đến độc lập cho Việt Nam.
Châu Trường nằm dọc theo vùng đất cao ở phía bắc châu Ái và bao gồm vùng cực nam của đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên phần đồng bằng trực thuộc châu Trường không thuận lợi làm nông nghiệp vì lúc đó hệ thống đê điều sông Hồng chưa được nối xuống đến vùng này. Dân số tương đối ít ỏi của châu Trường chủ yếu sinh sống bằng nghề đánh bắt cá và săn thú. Ngày tháng thành lập châu Trường không được ghi lại trong những cuộc cải cách hành chánh vào nửa đầu thế kỷ 7 nhưng châu Trường lại có tên trong kỳ kiểm kê dân số vào năm 740. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng châu Trường đã được thành lập cùng thời với châu Phúc Lộc trong những năm 660 như là một nỗ lực để nhà Đường kiểm soát chặt chẽ khu vực duyên hải tiếp cận với các trung tâm dân cư ở vùng hạ lưu. Châu Trường có vị trí chiến lược quan trọng vì nó khống chế con đường bộ chạy dọc theo bờ biển từ đồng bằng sông Hồng đi xuống miền Nam.
Châu Phong bao gồm các vùng đất nơi mà sông Hồng và các sông nhánh từ các vùng núi cao đổ về đồng bằng vì thế châu Phong được dùng làm đại bản doanh để kiểm soát toàn thể vùng sâu, vùng xa của đồng bằng sông Hồng và sông Mã. Có ít nhất 28 “châu độn” chạy dài mãi tới tận Vân Nam thuộc địa hạt châu Phong. Vì nhiệm vụ chiến lược của châu Phong dưới thời nhà Đường là bảo vệ Giao Chỉ chống lại các bộ tộc ở núi, nên suốt thế kỷ 9 khi nhà Đường gặp mâu thuẫn với các bộ lạc miền núi, châu Phong đã trở thành sân khấu của những vụ xung đột kéo dài.
Trung tâm quản trị dân số và hành chánh của Đô Hộ Phủ được đặt ở Giao Châu và chịu ảnh hưởng của Trung Quốc rất nhiều vì đây là nơi mà đông đảo nông dân sống quần tụ quanh lưu vực sông Hồng và đây cũng là địa điểm tiếp xúc của Trung Quốc với Việt Nam từ xưa đến giờ. Trong thời nhà Đường, Giao Châu là vùng đất đầu tiên được tiếp nhận văn minh Trung Quốc qua việc bị đô hộ theo thể thức hành chánh châu quận có ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu dài đến thế. Trong khi sự đối kháng ảnh hưởng Trung Quốc tại các châu khác được củng cố nhờ yếu tố địa dư thì Giao Châu nằm hoàn toàn trong vòng cương tỏa của vương triều, và ngày càng quen với những ý tưởng và tổ chức xã hội của Trung Quốc. Những đòi hỏi và yêu sách của các quan Tổng Quản Giao Châu lâu ngày thành nếp đã khuất phục được thái độ chống đối trong cách cư xử của dân chúng địa phương; những trường học được dựng lên, và những gia đình địa phương có tham vọng nay tiếp nhận được nền giáo dục kiểu Trung Quốc với một tư duy rập khuôn theo vương triều.
Tuy nhiên, trong các đền chùa, những tín ngưỡng cổ xưa vẫn được duy trì dưới sự che chở của Phật Giáo và của một loạt các vị thần linh xuất thân từ di sản văn hoá bản xứ. Viễn ảnh văn hoá Việt Nam dựa trên nền tảng của sự thờ cúng thần linh trong bối cảnh linh động Phật Giáo giúp Giao Châu đã trở thành trung tâm của Phật Giáo Việt Nam. Chính những viễn ảnh ấy sau này đã trở thành đỉnh cao văn hoá của một quốc gia độc lập khi Việt Nam chuyển mình tự chủ thoát ách đô hộ từ thế kỷ thứ 10 cho đến sau này.
Thật ra Giao Châu đã không trải qua một nền hành chánh rập khuôn theo kiểu Trung Quốc vì Trung Quốc chỉ luôn coi Giao Châu như là một địa hạt ở biên giới mà dân cư toàn là “bọn man di” không phải là người Trung Quốc; nhưng Giao Châu lại học được các kinh nghiệm của Trung Quốc nhiều hơn bất cứ châu nào khác. Năm 622, tám châu được lập ở đó và năm 627, những châu này đổi thành 8 quận và được gộp cả vào Giao Châu.
Trước thời nhà Đường, nhà Tùy đã từng lập một trung tâm hành chánh ở vùng phụ cận Hà Nội bây giờ. Năm 618, vì lo sợ Ninh Truờng Chân tấn công, Khâu Hoà đã cho xây một thành nhỏ có chu vi khoảng 900 bước được gọi là “Tử Thành” theo cách gọi của Trung Quốc đối với một thành lũy tọa lạc ngay giữa một khu dân cư đông đúc. Đây cũng chính là nơi mà khi xưa Lý Bí đã xây đồn lũy để chống Trần Bá Tiên trong trận đánh thứ nhì vào năm 545. Tử Thành được xây dựng ở bờ nam sông Hồng ngay mép nước triều lên cao nhất vào mùa khô. Lần đầu tiên được thiết lập như một địa hạt hành chánh riêng biệt vào giữa thế kỷ 5, nhờ đê điều đã được đắp dọc theo sông Hồng xuống tận đó, nên khu vực này đã trở thành một trung tâm chính trị đặc biệt dưới thời nhà Tùy và nhà Đường. Chính nơi đây viễn ảnh một nền hành chánh mở rộng của bắc triều đã được ghi nhận qua việc đặt trụ sở chính quyền trung ương địa phương tại phía nam sông Hồng.
Với vị trí dọc theo bờ biển phía bắc đồng bằng sông Hồng, khi mới được thành lập đầu vào năm 535 thì châu Lục có tên châu Hoàng nhưng vào năm 598 bị đổi tên thành Lục bởi Lịnh Hồ Hi. Năm 622, châu Lục lại được nhà Đường tổ chức thành một châu nhưng rồi lại bị bãi bỏ, và sau đó lại được đặt dưới quyền một châu khác ở về phía bắc vào năm 628. Đến năm 650, châu Lục lại tái xuất hiện thành một châu riêng biệt. Tên Lục, nghĩa là khô, “đất khô” bắt nguồn từ việc châu này có một con đường đất khô nối liền các bờ biển ở phía “bắc vùng duyên hải Quảng Đông” với các bờ biển ở “vùng biên giới phía nam” Việt Nam. Sách chép cho rằng châu này “nằm trong một vùng duyên hải nghèo nàn mà rau đậu không mọc được và dân chúng chằng phân biệt lụa với bông là gì vì đa phần sống nhờ biển”. Châu Lục nằm trên ranh giới giữa Đô Hộ Phủ và đất vương triều do đó thường chịu sự kiểm soát trực tiếp nhiều hơn từ phía bắc.
Xem xét lại phần hành chánh và địa lý của Đô Hộ Phủ cho thấy có sự cách biệt lớn giữa các châu về phương diện dân số và chức năng. Nói chung các châu đều là những bộ phận của đô hộ phủ nhưng không phải vì thế mà không thiếu những nét đặc thù của từng châu.
Các châu Giao, Phong, Ái và Hoan nằm trong những phần đất thấp và phì nhiêu nơi dân cư tập trung đông đúc. Châu Giao là châu lớn hàng đầu, có quan hệ mật thiết nhất với nhà Đường. Châu Phong với đặc điểm ở gần núi non nên giữ vai trò của bảo vệ miền biên giới châu Giao. Châu Ái tương đối không bị những thế lực bên ngoài khuấy rối nên khó mà đi vào khuôn khổ theo kiểu cai trị của nhà Đường như các châu khác. Việc châu Ái hưởng ứng mạnh mẽ ý tưởng độc lập của Việt Nam vào thế kỷ thứ 10 là bằng chứng hùng hồn cho thấy rằng, trong tất cả các khu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam sau này, châu Ái là châu kế thừa và bảo tồn truyền thống Việt Nam được nhiều nhất trong suốt thời kỳ nhà Đường đô hộ. Châu Hoan nhỏ và hẻo lánh, một mặt có cơ hội tiếp xúc chặt chẽ với các châu láng giềng ở miền Nam và miền Tây, nhưng đồng thời phải chịu đựng những khuấy phá và tấn công liên tục do những khác biệt về biên giới địa lý và văn hóa. Châu Diễn và châu Phong có nhiệm vụ giữ an ninh các vùng núi ở sâu và xa cũng như ba vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã, và sông Cả. Còn các châu Phúc Lộc, Diễn, Trường và Lục, giữ an ninh những vùng bờ biển và làm trái độn giữa vùng đồng bằng với vùng biên cương Lâm Ấp cũng như các áp lực từ phía Bắc triều.
Năm 742, tất cả những châu này lại một lần nữa bị hạ xuống cấp quận, và đúng 16 năm sau, tức là vào năm 758, tổ chức hành chánh các châu theo kiểu cũ lại được phục hồi. Đây là lần thay đi đổi lại cuối cùng trước khi diễn ra cuộc nổi dậy của An Lộc Sơn ở Trung Quốc. Cuộc nổi dậy của An Lộc Sơn (756 – 763) đã khiến nhà Đường rơi vào cảnh rối loạn đảo điên nên tạm thời Trung Quốc không có thời gian và thế lực để gây áp lực lên miền biên giới phía nam.
[1] An Nam đô hộ phủ là tên gọi bộ máy cai trị của nhà Đường trên đất Giao Châu (tương ứng với Miền Bắc Việt Nam ngày nay, có địa bàn từ Hà Tĩnh trở ra). Năm 679, nhà Đường đổi Giao Châu đô đốc phủ lập An Nam đô hộ phủ gồm 12 châu (Giao Châu, Lục Châu, Phong Châu, Ái Châu, Hoan Châu, Trường Châu, Phúc Lộc Châu, Thang Châu, Chi Châu, Vũ Nga Châu, Diễn Châu, Vũ An Châu) và 59 huyện. Năm 757, nhà Đường đổi là Trấn Nam đô hộ phủ, chín năm sau lấy lại tên cũ. Năm 825, lỵ sở An Nam đô hộ phủ đặt tại Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Chức quan đứng đầu An Nam đô hộ phủ là kinh lược sứ, sau đổi thành tiết độ sứ.
Năm 713, Mai Thúc Loan lãnh đạo một cuộc nổi dậy của người Việt, chiếm được lỵ sở Tống Bình, giữ được độc lập trong vòng 10 năm. Nhà Đường phải huy động 10 vạn quân mới tái chiếm được. Năm 761 -767, Abeno Nakamaro, người Nhật Bản du học và làm quan cho nhà Đường được cử làm người đứng đầu An Nam đô hộ phủ. Năm 767, các thế lực quân sự từ đảo Java (các tư liệu lịch sử cũ gọi là Chà Và) tấn công vào Chu Diên. Năm 791, Phùng Hưng, người Việt, chiếm được thành Tống Bình, giữ độc lập được hơn 10 năm. Đầu thế kỷ 9, Hoàn vương quốc (tiền thân là Lâm Ấp) tấn công biên giới phía Nam. Năm 808, tiết độ sứ là Trương Chu tấn công Hoàn vương quốc và giành thắng lợi. Từ năm 846, Nam Chiếu nhiều lần tấn công Giao Châu. Mãi đến năm 866, Cao Biền mới đánh lui được hoàn toàn quân Nam Chiếu. Năm 866, nhà Đường đổi tên An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân. Năm 906, Khúc Thừa Dụ, người Việt, nổi dậy giành độc lập trên thực tế cho Việt Nam.
[2] Đèo Ngang nằm trên một rặng núi bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, vươn ra biển Nam Hải như một bức trường thành hùng vĩ nên có lẽ vì thế mà rặng núi này được gọi là Hoành Sơn. Sử chép rằng chúa Nguyễn Hoàng thời Lê Mạt trước khi vào trấn nhậm Đàng Trong, có cho người đến thỉnh ý cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cụ nhìn thấy một đàn kiến đang bò trên hòn giả sơn trước sân nhà, bèn nói Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân (núi Hoành một dãy, vạn đời dung thân). Câu chuyện thuộc về dã sử không rõ thực hư, nhưng kể từ năm 1558, khi chúa Trịnh cho Nguyễn Hoàng vào Nam trấn nhậm cho đến khi nhà Nguyễn lập quốc xưng vương vào năm 1802, rồi kéo dài cho đến năm 1945, khi vua Bảo Đại thoái vị trao quyền lại cho ông Hồ Chí Minh, tổng cộng gần 400 năm kể cũng là vạn đại lắm rồi.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét