Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Bức thảm cuộc đời

Bức thảm cuộc đời
Tranh minh họa: Họa sĩ Nguyễn Thanh Vân
Một người quần áo tơi tả, ngủ nhờ nơi chùa hoang miễu rách. Trời chưa sáng hẳn, thấy hắn ta đang đứng trước tiệm cà phê tránh cơn gió lạnh để chờ xe. Ông chủ tiệm ra xua đuổi. Sáng sớm đã thấy ăn mày rồi, đi đi! Vừa lúc chiếc xe đò chạy tuyến đường Hà Nội Sài Gòn, hắn ta đưa tay ra đón. Xe thắng gấp. Ði đâu? Tôi đi Sài Gòn. Năm chục ngàn, lên xe lẹ lên. Không! đắt lắm tôi không đủ tiền!

Chủ xe ngập ngừng không muốn chở, bảo xe chạy, và nói, “Tên ăn mày tiền đâu mà cho nó đi” nhưng người phụ xe nói, thôi ông cứ lên đi, được rồi! Với bộ quần áo bạc màu, từng miếng vá chồng lên miếng vá, như không còn đủ che thân. Khách bộ hành trong xe, cho rằng chàng là gã ăn xin dọc đường.

Xe tiếp tục chạy, trả lại những ý tưởng cho mọi người suy nghĩ riêng tư, phần Tài đang miên man nghĩ đến chuyện gia đình, trong suốt bảy năm ngồi tù, chẳng được tin tức vợ và cũng không một lần đến thăm chàng.

Thế rồi xe đến Sài Gòn lúc nào chàng cũng chẳng hay, người phụ xe vỗ vai Tài “đến rồi xuống đi, tôi không lấy tiền ông đâu, riêng tôi xin biếu ông.” Tài cúi đầu nhận ơn! Rồi những giọt nước mắt từ từ lăn tròn trên má, đó là những giọt nước mắt cuối cùng, cho một cuộc đổi đời đầy bi thảm nhất, chàng cảm nhận rằng kẻ nghèo biết thương người hơn kẻ giàu sang. Tài chỉ cần xin một chút tình người, với sự sống bằng niềm tin. Tài xin tạ ơn người phụ xe, đã cho Tài những ân nghĩa không bao giờ dám quên.

Tài uể oải bước đi từng bước trên con đường ngoại ô thành phố. Ðến nhà, hai hàng cây bên đường, lặng yên đợi gió như muốn chia xẻ nỗi xót xa trống vắng, nơi tâm hồn chàng.

Tài đi vòng từ trước ra sau, chẳng thấy một bóng người, nhìn vách tường đất xiêu vẹo, những tấm tôle trên mái đã rỉ sét, tất cả đều vắng vẻ.

Thân sinh Tài đã mỏi mòn chờ đợi ngày về của con, cũng lần lượt yên nghỉ vào lòng đất lạnh, nấm mồ ba mẹ chàng được chôn nơi miếng vườn làm nhà ở, bao thu sang, xuân về, không ai tảo mộ nhang khói, cỏ mọc thay phiên chồng chất lên nhau.

Chàng lảo đảo bước đi như muốn ngã quỵ, niềm tin đã cháy cạn nơi tâm tư. Trong tù, Tài chỉ trông cậy vào một thần tượng duy nhất là người vợ vẫn đợi chờ chàng, hy vọng ấy nay đã trở thành khói mây.

Con chó mực nghe động tiếng người, từ trong nhà nhảy xổm ra sủa, như muốn ăn tươi nuốt sống người đối diện. Chàng vội thốt lên “Mực! Mực! lại đây con ! con quên ta rồi sao?” con Mực nghe được âm thanh và giọng nói của chàng, nó liền nhảy nhào mừng quýnh quít, thót lên trên đầu trên cổ chàng, Tài thốt lên “bảy năm xa cách, Mực vẫn còn nhớ đến ta,” chàng ôm chặt lấy nó mà lòng héo hon chua xót.

Tiếng chó sủa pha lẫn tiếng người, dì của Tài đang đau nặng trên giường bệnh, liền ngồi dậy như liều thuốc hồi sinh. Trời ơi! cháu... cháu về... có thật cháu về phải không lại đây nói nhỏ, dì sợ “tai vách mạch rừng” con Lệ vợ con, nó vượt biên lâu rồi, kể từ ngày con vào tù, nó có viết thư để lại cho con, dì còn giấu cất nơi đây.

Tài lấy thư ra đọc “anh Tài! vì lẽ sống em phải xa anh, thôi hết rồi còn chi không anh, tình mình không mong sum hợp, đừng buồn em anh nhé! vĩnh biệt anh! em đi! Thy Lệ.

Mười năm trôi qua, chàng từng ngày đi bán bánh mì nuôi thân, nuôi dì và con chó trung thành với chàng. Từ bến xe đến góc chợ, nơi đâu cũng thấy có chàng. Một con vật có tình nghĩa thủy chung. Ngã nghiệt thay, đến hôm nay, dì Tài đã chết, vì thiếu tiền chạy thuốc, con Mực yêu thương của chàng cũng chết, khi nó đi theo chàng hằng ngày, bị xe cán, có hoàn cảnh nào đau thương và xót xa hơn! khi người vợ bỏ chàng ra đi, người dì yêu thương cũng vĩnh viễn, để lại cho chàng một khoảng trống bơ vơ!

Ðêm đêm trong giấc ngủ chập chờn, chàng thấy mẹ mình xuất hiện cầm tay chàng, như muốn an ủi đứa con thân yêu “mẹ ba sinh con và đặt tên con, hy vọng mai sau khôn lớn, con sẽ có tài trí thao lược hơn người, không ngờ từ chữ tài hóa thành chữ tai ba mẹ đâu có ngờ đến.” Chàng giật mình ngồi dậy, liên miên suy nghĩ:

Với xã hội đổi chủ, hôm nay có lắm nghề lại xuất hiện, mà trước 75 Miền Nam không bao giờ thấy, có phải “bần cùng sinh đạo tặc” chăng! Cái nghề “ngư ông” thừa “nước đục thả câu”! Nghề “đội mũ cánh chuồn” loại “mũ cối hạng hai.” Thêm vào loại “đạo quì, đạo cúi” chúng không đi đôi chân, nhưng đi bằng hai đầu gối, sẵn sàng bưng bô xách bị, kiêm nhiệm theo nghề thợ sơn, “pha trắng trộn đen,” che giấu “cái mặt bôi vôi.” Bởi thế “người lớn mãi bởi vì ta quỳ xuống”!!

Với người bạn đời, “còn bạc còn tiền còn đệ tử” khi không còn những thứ ấy, thì “tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi.”

Với tình cốt nhục, từ “tình thâm” đổi thành “bể thẩm” từ tình “cầm sắc đổi thành cầm cờ.”

Với niềm tin mầu nhiệm, chỉ còn trông cậy vào “ngọn nến đèn cầy.” Hiệp Thông, Hiệp Ðịnh. Nhưng chẳng qua là “đồ thích chí” chúng ngầm khuyến khích nên làm vậy. Nghĩ cho cùng “Pari Hội Ðàm” cũng chẳng nghĩa lý gì đối với chúng.

Chàng chỉ còn niềm tin nơi Thượng Ðế, dẫu biết rằng đó là những tiếng kêu tuyệt vọng. (...) Thượng Ðế ơi! Thượng Ðế làm ngơ hay Thượng Ðế hẹp hòi, (...)! Chúng con đói cả quê hương và đói cả yêu thương!

Thế rồi một phép lạ đem đến, chương trình H.O ra đời 1990, Tài ra đi theo diện do người Mỹ sắp xếp, và được người thiện nguyện bảo trợ.

Như chú Mán xuống đồng, và đang lạc vào xứ Hiệp Chủng Quốc, ý nghĩ mông lung như kéo Tài về thực tại, có một người vừa đập vai chàng đang làm việc tại phi trường hỏi “ông đến Mỹ làm chi bây giờ, kinh tế xuống, thất nghiệp dài dài, homeless đầy đường, tôi đây định làm kiếm vừa đủ tiền vé máy bay, về lại Việt Nam còn sướng hơn ở đây khổ lắm!”

Nghe được lời nói, chàng có cảm tưởng như trời sập tối lại, mang thêm nỗi lo như mai nầy trời tận thế. Trong phút chốc chàng lấy lại bình tĩnh, và trả lời thẳng với người nói với chàng lúc nãy, “cho dù tôi qua đây có phải đi ăn xin, tôi vẫn phải đi, bởi vì tôi đang khao khát tự do.”

Tài tự hỏi, trên bước đường đến Mỹ tại sao người ta không an ủi và khuyến khích mình, với những lời lẽ cần thiết đề giúp chàng, vượt qua những khó khăn ấy. Họ là ai vậy? có phải là loại người ích kỷ, thị phi, hay họ muốn làm thầy đời, những ai mới đến Mỹ.

Ðã đến giờ Tài phải lên chuyến bay chuyển tiếp đến Greeville thuộc bang Georgia. Vừa bước xuống máy bay, thì có người đến với Tài và tự xưng “tôi là Kim người bảo trợ của ông, có đồ đạc gì không, bỏ vào đây đem ra xe”. Dạ không tôi chỉ có xách tay vỏn vẹn bấy nhiêu thôi.

Nhà nầy, chúng tôi thuê sẵn cho ông ở, trong thời gian mười hai tháng, ông được trợ cấp của chính phủ kể từ ngày ông đến . Khuya rồi, chúc ông ngủ ngon, đúng hai giờ chiều mai, tôi sẽ lại gặp ông, mời ông đi làm giấy.

Người bảo trợ đến chở Tài đi làm thẻ an sinh xã hội, sau khi trở về nhà, bà ấy nói: “tôi có câu chuyện muốn nói cùng ông, tôi tin chắc rằng ông sẽ buồn, nhưng chẳng còn có cách nào khác hơn nữa, khi người ta nhờ tôi nói giúp! Người vợ của ông trước đây tên Lệ, khi sang Mỹ bà ấy đã có chồng khác, ông đừng trông mong gặp lại bà ấy nữa. Bà ấy muốn lánh mặt với ông, nhờ tôi thay thế đứng ra bảo trợ, tất cả đồ đạc trong nhà này, cũng như tiền thuê nhà, bà Lệ bỏ ra thuê mướn cho ông, vì bà nghĩ lại chút tình cũ nghĩa xưa, nên sẵn lòng giúp ông vài tháng ban đầu, sau khi tìm có việc làm ông sẽ tự túc lấy.
Bà bảo trợ chưa nói hết câu, Tài xin lỗi và ngắt ngang “tôi chân thành cảm ơn lòng tốt bà Lệ và sự guip đỡ của bà bảo trợ, đã giúp tôi trong giờ phút ban đầu, nhiều khó khăn và thử thách trên đất khách. Tôi xin đa tạ tấm chân tình ấy!

Ðêm nay, một đêm thức trắng, Tài cảm nhận rằng “thức khuya mới biết đêm dài” cái giá lạnh đêm đông của miền cực bắc nước Mỹ. Nhưng giá rét của tuyết băng, không bằng cái băng giá đang ngự trị trong tâm hồn chàng.

Tiếng nhạc lời ca lúc trầm lúc bỗng, vọng lại từ chiếc máy nào đó, bên cạnh nhà hàng xóm người Việt Nam thuê mướn đâu đây, âm thanh réo rắt, đầy gợi nhớ xót xa, tiếng ca sĩ Hoàng Oanh qua lời thơ ngâm quen thuộc, “anh đường anh, tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi . . .”

Không còn một lối thoát nào khác hơn, chàng quyết định ngày mai phải bỏ nơi đây để ra đi.

Hành trang mới cho ngày mai, chàng vội viết lá thư gởi đến cho Lệ nhờ bà bảo trợ chuyển giúp.

Bà Lệ! Lời nào cho bà và lời nào tôi viết cho tôi! Xin gởi và trao trả lại “chút ân tình”mà bà đã dành cho tôi, khi tôi vừa đặt chân trên miền đất khách, đầy ngỡ ngàng và xa lạ nầy!

Không biết tôi gọi hai chữ “ân tình” có đúng nghĩa của nó không? nếu tôi đón nhận sự trợ giúp của bà, chẳng khác nào tôi đi nhận bố thí, của con người, mà trước đây tôi đã từng đầu ấp tay gối, lương tâm tôi không cho phép tôi làm như vậy.

Thưa bà, có nỗi khổ nào bằng nỗi khổ trong tù, tôi bơ vơ, tôi trơ trọi, ngày lại ngày tôi chỉ có nửa chén cơm hôi với hai khúc khoai mì dăm, thế mà tôi chịu đựng được suốt bảy năm trời, chưa nói đến hình phạt khổ sai lao động, thì hôm nay tôi đã đến Mỹ, cho dù phải gian lao thêm thế nữa, so với chốn lao tù còn có nghĩa lý gì đâu!

Bà Lệ!
Ngày xưa thì đá vàng hẹn ước,
Nay thì đá nát vàng phai.
Phải lắm bà ạ! tôi chẳng trách đời, và cũng không trách người, vì đời là cuộc biển dâu, thì đối với vợ chồng như là chiếc áo mặc rồi cởi ra, là chiếc áo đã rách, thay lại áo lành, cũng phải lắm thôi!
Vĩnh biệt bà! Tài.
Tái bút: xin cảm ơn bà đã cho tôi được tá túc nơi nhà nầy được 48 tiếng đồng hồ.

Sáng hôm sau, Tài ra bến xe bus Greyhound, mua vé đi về tiểu bang New York nơi đây chàng đã liên lạc được với người bạn khi chàng còn ở Việt Nam.

Nhờ bạn giúp đỡ nơi ăn chốn ở cũng như công việc làm. Tháng ngày trôi qua, cuộc sống tạm ổn định, có những đêm buồn thao thức, hình ảnh của một quá khứ sao mãi chập chờn vào tâm thức chàng. Ðất nước sau khi đổi chủ thay ngôi, người dân Miền Nam như những chiếc lá khô trong cơn bão dân tộc, được biến dạng một cách nhịp nhàng, khi trắng như vôi, lúc đen hơn mực xạ.

Nào vợ bỏ chồng, cha đuổi con, chị em ruột thịt quay mặt làm ngơ. Những con người “mưa lúc nào vuốt mặt lúc ấy” họ đã lầm, hay là họ đang “buồn ngủ gặp chiếu manh.” Ngày nay họ được vênh mặt nở tai, con bảo lãnh ra đi nước ngoài, và được một thời áo gấm về làng, trong diện du lịch, du hí, du dương. Nếu không có vậy, chắc chắn ở nhà với vợ biết ngày nào khôn.

Thời gian đến Mỹ đã bốn năm 1994. Hà nhận được phone từ người anh con chú bác Việt Nam gọi qua, nhắn chàng hãy về để lấy hai phần mộ ba mẹ chàng đem chôn nơi khác, vì đất chàng không có người ở, nhà nước tịch thu sử dụng làm việc khác.

Về đến Sài gòn, Tài chẳng biết trú ngụ vào đâu, chàng mướn khách sạn tạm ở đôi ngày. Hôm sau chàng trở lại vườn cũ, nơi đây từng sum hợp, và cũng nơi đây tan vỡ, đã chôn chặt nhiều kỷ niệm vui buồn. Người vợ lãng quên. Anh em đổi lòng. Cha mẹ chàng đã yên giấc song chẳng được yên thân! Người anh con bác, dư hiểu rằng, chàng không còn một giấy tờ nào để chứng minh, là đất của ông cha mình để lại cho chàng. Hơn nữa chàng đã bỏ Việt Nam ra đi, anh ông dựa thế kẻ mạnh lấy luôn, và làm giá bán cho kẻ có thế lực.

“Tiền tài” đã làm “nhân nghĩa tiệt.” Tài đành lòng bốc mộ ba mẹ, hỏa táng lấy tro, gởi vào chùa, xin linh hồn ba mẹ, theo khói hương trầm, khuya sớm nghe tiếng kinh câu kệ, bên bóng hình Ðức Phật Như Lai, mà quên đi cảnh tráo trở của thế gian! Hàng năm chàng sẽ gởi tiền công đức về chùa, để nhờ thầy sớm hôm nhang khói cho ba mẹ chàng.

Còn hai ngày nữa là chàng sẽ trở lại Mỹ. Ðêm nay, từ phòng ngủ Tài bách bộ trên đại lộ Nguyễn Huệ, chàng tưởng chừng như mình đang đi trên vỉa hè nào xa vắng. Hương dĩ vãng đã làm chàng muốn khóc, chàng cảm thấy cô đơn giữa đám người đi tấp nập, chàng ghé vào quán phở ăn thêm, trước khi về phòng ngủ. Tình cờ không hẹn mà đến, bất chợt chàng gặp mặt Lệ cũng từ Mỹ về thăm nhà, đang cặp tay với một người chồng mới của nàng.

Họ đang dìu nhau vào quán, vì tiệm đông thực khách, không còn bàn trống, đôi uyên ương đang tìm chỗ ngồi, nhưng tất cả bàn đều có khách, duy nhất bàn Tài đang ngồi một mình, còn dư ba ghế, Lệ chẳng để ý, người ngồi trước là ai, kéo chồng nàng đến ngồi vào chỗ trống.

Gặp lại nhau bất thần, Lệ nhìn Tài như thể nhìn người không quen, Tài đang nuốt những bánh phở còn lại trong tô, như nuốt dăm bào, mùi nước phở không còn ngọt lịm như xưa, dư vị như chua lẫn đắng, ăn chưa hết tô phở, chàng vội đứng dậy trả tiền, rồi bước ra ngoài. Tài bỏ đi như chạy trốn.

Tài trở lại khách sạn để ngày mai đáp chuyến bay về Mỹ, chàng hy vọng thời gian sẽ là liều thuốc tiên, rồi cũng sẽ quên đi bao nỗi ưu phiền của quá khứ. Tài cho rằng cuộc đời giống như một bức tranh, mà người thợ vẽ chuyên nghiệp biết pha màu. Vì lẽ đó, người có “sở đoản” nhìn tranh cho là 'lâu đài tình ái' dưới đáy biển. Và kẻ 'mang tâm sự buồn' cho đó là một cục sơn có màu sắc, được pha trộn dưới lớp sơn của người thợ vẽ khéo tay. Hay khác hơn, đó chỉ là những cục sơn trong những cục sơn dồn đống, giống như đống phân trâu. Nên cũng đừng hỏi tại sao, có những bức tranh giá cả triệu đô, còn có những bức tranh bán sale cũng chẳng ai thèm lấy. Nếu đem “mộng sự ” so với “châu thân.” Thì trên đường đời còn có trăm lối rẽ đến nghìn khúc quanh, như một bức thảm của cuộc đời hôm nay vậy.

*******
Đây là 1 bài tham dự cuộc thi nên trang mạng chưa công bố tên thật của tác giả, tạm thời t
ác giả mang số hiệu: 35-018

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=176901&zoneid=456#.UoiCZtKkp9U

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét