Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

Các nhà phân tích nói gì về chuyến thăm TQ của ông Tô Lâm ?

Các nhà phân tích nước ngoài nói gì về chuyến thăm Trung Quốc của ông Tô Lâm ?
Sáng ngày 14 tháng 4, chuyên cơ của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm đã hạ cánh xuống sân bay quốc tế Bắc Kinh để bắt đầu chuyến thăm Trung Quốc. Bí thư Thành ủy Bắc Kinh Doãn Lực đã đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân tại chân cầu thang máy bay. Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân diễn ra theo lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và phu nhân.
Đây là một chuyến thăm có vẻ "thuận theo lẽ thường" vì Việt Nam và Trung Quốc núi sông liền một dải, chế độ tương đồng, các cuộc tiếp xúc cấp cao vốn đã dày đặc. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh cục diện quốc tế phức tạp và đa biến hiện nay, chuyến thăm và đặc biệt chương trình thăm lần này càng trở nên đầy ý nghĩa.

1. Lịch trình làm việc mang nội hàm rõ nét

Trong 4 ngày thăm Trung Quốc, lịch trình của ông Tô Lâm rất khẩn trương và mang nội hàm rõ nét: Ông là nguyên thủ quốc gia nước ngoài đầu tiên đến thăm Khu mới Hùng An, chọn đi tàu cao tốc để cảm nhận "tốc độ Trung Quốc"; bước vào Bảo tàng Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc để xem lại mạch nguồn lịch sử cách mạng và xây dựng của hai Đảng, hai nước; và lại tiếp tục đi tàu cao tốc đến Quảng Tây, cửa ngõ tiền tiêu trong việc mở cửa giữa Trung Quốc và Việt Nam, để tham quan.

Điều đặc biệt đáng chú ý là, đây là chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông Tô Lâm sau khi tái đắc cử Chủ tịch nước cách đây vài ngày. Hai năm trước, sau khi lần đầu đắc cử Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông cũng chọn Trung Quốc là điểm đến đầu tiên.

Chuyến đi này của ông Tô Lâm không chỉ liên quan đến bước tiếp theo của quan hệ Trung - Việt, mà còn phản chiếu sự lựa chọn của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Là tiếp tục chiến lược cân bằng của "ngoại giao cây tre", hay sẽ ngả về phía Trung Quốc rõ ràng hơn trong một số lĩnh vực then chốt?

Phó giáo sư Phùng Siêu tại Khoa Ngôn ngữ Phương Đông, Đại học Nghiên cứu Quốc tế Thượng Hải, cho rằng, con đường phát triển của Việt Nam về bản chất là một sự lựa chọn thực dụng "lấy Trung Quốc làm thầy", "dò những viên đá của Trung Quốc để qua sông" trong tiến trình công nghiệp hóa. Trung Quốc không chỉ là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, mà còn đóng vai trò lớn như một "hệ quy chiếu phát triển".

Ông dự báo, với việc các quan chức có nền tảng du học Trung Quốc như tân Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, tiến vào hạt nhân quyết sách, sự hợp tác giữa Trung - Việt trong các lĩnh vực hạ tầng, kinh tế số, năng lượng... sẽ đón nhận những bước tiến thực chất hơn. Việc hai nước có thể tiếp tục làm lớn "chiếc bánh" hợp tác và kiểm soát bất đồng hay không sẽ quyết định hướng đi tương lai của quan hệ song phương.

2. "Tranh thủ thêm nhiều nguồn lực từ Trung Quốc"

Một chi tiết gây chú ý là khi đến Bắc Kinh, ông Tô Lâm đã bắt tay đại diện phía Trung Quốc rất lâu, hình ảnh khoảng 20 giây được ống kính ghi lại được xem là biểu tượng cho độ ấm của quan hệ hai nước.

Từ góc nhìn của truyền thông nước ngoài, từ khóa trong chuyến thăm này của ông Tô Lâm không hề phức tạp: Hợp tác, Ổn định và Phát triển.

Trang tin VnExpress của Việt Nam nhấn mạnh hai nước "có lịch sử ngoại giao lâu đời"; Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) mô tả quan hệ Trung - Việt những năm gần đây "duy trì đà phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành quả to lớn", đồng thời chỉ ra chuyến thăm này diễn ra vào dịp kỷ niệm một năm lãnh đạo Trung Quốc thăm Việt Nam, và cũng là lần gặp gỡ thứ ba giữa lãnh đạo hai nước trong chưa đầy hai năm.

Hãng tin Reuters cho rằng, quan hệ Trung - Việt đang tiếp tục xích lại gần nhau, kinh tế thương mại và đầu tư vẫn là trụ cột của quan hệ song phương. Hai bên đã đạt được đột phá trong nhiều lĩnh vực vốn trước đây được coi là "nhạy cảm" như kết nối đường sắt, xây dựng khu kinh tế biên giới và mạng 5G. Đồng thời, hai bên kỳ vọng sẽ ký kết một loạt thỏa thuận hợp tác liên quan đến hạ tầng viễn thông và các lĩnh vực then chốt khác.

Bloomberg cũng đưa ra nhận định thẳng thắn: Chuyến thăm này nhằm tăng cường an ninh năng lượng, làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác với Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.

Bloomberg dẫn nguồn tin cho biết, hai bên sẽ chứng kiến việc ký kết nhiều thỏa thuận, bao gồm xây dựng đường sắt đô thị tại TP. Hồ Chí Minh, năng lượng, viễn thông, thậm chí có thể liên quan đến thỏa thuận máy bay tiềm năng giữa Vietjet Air và COMAC Trung Quốc.

Đằng sau những sự hợp tác này là một thực tế không thể né tránh: quan hệ kinh tế thương mại Trung - Việt từ lâu đã nhúng sâu vào cấu trúc phát triển của nhau.

Năm 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, còn Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN, đồng thời là đối tác thương mại quốc gia đơn lẻ lớn thứ tư của Trung Quốc trên toàn cầu.

Dữ liệu chính phủ Việt Nam cho thấy, kim ngạch thương mại song phương Việt - Trung năm ngoái đạt 256,4 tỷ USD, tăng 24,7% so với cùng kỳ, làm nổi bật sự phụ thuộc của Việt Nam vào nguyên liệu thô từ Trung Quốc trong khi Việt Nam xuất khẩu khối lượng lớn sang Mỹ. Xu hướng hội nhập kinh tế này tiếp tục kéo dài sang năm nay, trong hai tháng đầu năm, Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại số một của Việt Nam với tổng kim ngạch hai chiều đạt 66,7 tỷ USD.

Năm 2025, vốn đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam đứng thứ hai trong số các quốc gia đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đạt 5,96 tỷ USD. Năm ngoái Việt Nam đón 5,28 triệu lượt khách Trung Quốc, chiếm 1/4 tổng lượng khách quốc tế.

Mối quan hệ kinh tế này từ lâu đã không còn là việc mua bán hàng hóa đơn thuần, mà là một hệ thống chuỗi cung ứng tích hợp cao độ. Lượng lớn hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ thường có nguyên liệu và linh kiện thượng nguồn đến từ Trung Quốc.

Năm 2025, Việt Nam chính thức lọt vào nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới, đứng thứ hai trong ASEAN. Việt Nam lần đầu đạt thặng dư thương mại vào năm 2012, và từ năm 2016 đã bắt đầu chu kỳ 10 năm thặng dư liên tiếp, năm 2023 lập kỷ lục lịch sử với 
thặng dư 28,3 tỷ USD.

Đối với Việt Nam, củng cố hợp tác kinh tế thương mại với Trung Quốc chính là làm ổn định nền tảng kinh tế. Nói cách khác, "kỳ tích xuất khẩu" của Việt Nam ở mức độ nào đó được xây dựng trên sự hiệp đồng công nghiệp với Trung Quốc.

Và đằng sau đó là áp lực thực tế nhất hiện nay của Việt Nam.

Một mặt, việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang tăng tốc, Việt Nam với tư cách là "nơi tiếp nhận chuyển dịch sản xuất" cần duy trì được nguồn cung nguyên liệu và hỗ trợ đầu tư; mặt khác, thuế quan của Mỹ và việc thắt chặt kiểm tra "thương mại trung chuyển" cũng khiến mô hình phát triển cũ của Việt Nam đối mặt với sự không chắc chắn.

Cuộc chiến tại Trung Đông gần đây đẩy chi phí năng lượng toàn cầu lên cao, khiến triển vọng kinh tế Việt Nam chịu thêm áp lực.

Trong quý I năm 2026, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam dừng ở mức 7,83%, vẫn còn khoảng cách lớn so với mục tiêu đầy tham vọng 10%/năm mà Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra.

Các nhà phân tích từ Bloomberg cho rằng việc Mỹ kiểm tra thương mại trung chuyển và các biện pháp thuế quan tiềm năng khiến không gian xoay xở của Việt Nam giữa Trung và Mỹ trở nên phức tạp hơn. Trong tình hình đó, "nếu Trung Quốc sẵn lòng hỗ trợ năng lượng, điều đó sẽ rất có lợi cho Việt Nam".

"Hai bên sẽ nỗ lực đảm bảo sự hợp tác thương mại và đầu tư hiện có chịu ít gián đoạn nhất," Carl Thayer, Giáo sư danh dự Đại học New South Wales (Úc), chuyên gia về vấn đề Việt Nam, cho biết. Do chiến sự tại Iran vẫn tiếp diễn, "ông Tô Lâm rất có khả năng sẽ tranh thủ thêm đầu tư từ phía Trung Quốc trong lĩnh vực kết nối đường sắt và hợp tác năng lượng."

Trong hoàn cảnh này, tăng cường hợp tác với Trung Quốc gần như trở thành một lựa chọn tất yếu của Việt Nam.

3. "Dò đá Trung Quốc qua sông"

Điểm dừng chân đầu tiên của ông Tô Lâm sau khi tới Bắc Kinh không phải là hội đàm hay ký kết, mà là đi tàu cao tốc thẳng tới Khu đô thị mới Hùng An, tự mình cảm nhận tốc độ phát triển và mô hình của Trung Quốc, chứng kiến thành quả phát triển thành phố hiện đại hóa trình độ cao của Trung Quốc.

Là "thành phố của tương lai", hình mẫu của hiện đại hóa kiểu Trung Quốc, Hùng An mang trong mình nhiều nội hàm như cao điểm đổi mới, phát triển chất lượng cao. Thông tấn xã Việt Nam cũng đặc biệt nhấn mạnh Hùng An được định vị là điển hình của phát triển thành phố thông minh, xanh, lấy đổi mới làm động lực, nhằm tạo ra cực tăng trưởng mới cho khu vực, đồng thời thúc đẩy phát triển hiệp đồng và mở cửa đối ngoại.

Ông Tô Lâm là nguyên thủ quốc gia nước ngoài đầu tiên (với tư cách Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước) thăm Khu mới Hùng An. Ông Phạm Minh Chính khi đảm nhiệm Thủ tướng Việt Nam cũng từng thăm Hùng An vào năm 2023, và là người đứng đầu chính phủ nước ngoài đầu tiên tới thăm. Cả hai đều là "đầu tiên", nhưng tương ứng với các cấp bậc chính khách khác nhau.

Hùng An là đô thị có thể giải quyết "căn bệnh thành phố lớn", tạo ra tiêu chuẩn phát triển chất lượng cao. Đối với việc phát triển các thành phố vệ tinh cho các đô thị lớn như Hà Nội, giải quyết bài toán đô thị hóa, giảm tải các chức năng không cốt yếu của khu vực trung tâm, Hùng An có ý nghĩa tham khảo quan trọng.

Chuyến đi này của ông Tô Lâm nhằm tìm hiểu tại hiện trường các quan niệm quản trị đô thị tiên tiến và thực tiễn mới nhất của Trung Quốc.

Tại Hùng An, ông Tô Lâm đã xem sa bàn quy hoạch, khảo sát thực tế thung lũng xanh trung tâm, nhìn thấy hiệu quả xây dựng thành phố sinh thái đáng sống, cảm nhận trực quan cách Trung Quốc biến thiết kế cấp thượng tầng thành bức tranh hiện thực.

Điều này khớp nối cao độ với nhu cầu cấp bách nhất hiện nay của Việt Nam: nỗ lực đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10%, dốc toàn lực thúc đẩy hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, đô thị hóa và công nghiệp hóa, đang rất cần các phương án xây dựng và quản trị có thể triển khai và tham khảo được.

Truyền thông nước ngoài đã nắm bắt được logic này: Việt Nam đang chủ động tham khảo mô hình Trung Quốc.

Cách diễn đạt của Reuters rất thẳng thắn: Dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, Việt Nam "đang công khai ngả về phía Bắc Kinh hơn", đặc biệt là trong hệ thống kỹ thuật.

Đằng sau nhận định này là một loạt các động thái cụ thể.

Ví dụ, Việt Nam "đã không còn lo ngại như trước về việc sử dụng thiết bị Trung Quốc trong mạng 5G"; nhà vận hành internet lớn nhất của họ đang đầu tư vào dự án cáp quang biển do các nhà thầu Trung Quốc xây dựng.

Đồng thời, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng đang tích cực thảo luận việc đầu tư vào các trung tâm dữ liệu tại Việt Nam, vốn được coi là "hạ tầng then chốt có giá trị chiến lược".

Những quan sát từ cấp độ ngành cũng đang chứng thực xu hướng này.

Mikael Driot, giám đốc công ty tư vấn đầu tư Đông Nam Á "Mekong Partners", cho biết trong 18 đến 24 tháng qua, sự quan tâm của Trung Quốc đối với thị trường trung tâm dữ liệu Việt Nam đã tăng lên rõ rệt, loại hình đầu tư này phần lớn được thúc đẩy bởi các doanh nghiệp sản xuất chuyển dịch năng lực sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam.

Ở cấp độ thể chế, một số thay đổi tinh vi hơn cũng thu hút sự chú ý.

Truyền thông nước ngoài tiết lộ, Việt Nam đang cân nhắc thiết lập quỹ ổn định có bối cảnh chính phủ, gia nhập thị trường mua cổ phiếu khi thị trường đi xuống, "tham khảo rõ rệt cách làm của Trung Quốc".

Một tài liệu nội bộ của Chính phủ Việt Nam thậm chí còn viết: "Trung Quốc đã thiết lập quỹ tương tự, thành công trong việc ổn định niềm tin của nhà đầu tư."

Điều này có nghĩa là, sự điều chỉnh chính sách của Việt Nam không chỉ còn là "hợp tác với Trung Quốc", mà là chủ động tham khảo kinh nghiệm Trung Quốc trong một số lĩnh vực then chốt.

Dường như giới lý luận Việt Nam đang cho rằng: "Về vấn đề phương hướng và mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc đã tìm thấy câu trả lời, đồng thời tiến hành định nghĩa và đồng thuận chi tiết, đây là đóng góp cho nhân loại."

"Về cải cách kinh tế, Việt Nam gần như mô phỏng Trung Quốc." Ông Phùng Siêu nói, một kinh nghiệm khác của việc "lấy Trung Quốc làm thầy" là thu hút đầu tư nước ngoài quy mô lớn. Việt Nam đã áp dụng cách làm thực dụng "dò những viên đá của Trung Quốc để qua sông" (theo vết chân 
của Trung Quốc) trên con đường công nghiệp hóa.

Ông bổ sung thêm trong tiến trình công nghiệp hóa của Việt Nam, điểm yếu về hạ tầng đặc biệt nổi cộm, nhất là về cung ứng điện và vận tải logistics, đây trở thành động lực hàng đầu để Việt Nam sao chép kinh nghiệm "hạ tầng đi trước" của Trung Quốc.

Nếu nói việc ông Tô Lâm đích thân tới Hùng An phát ra tín hiệu lấy sự phát triển làm chuẩn đối chiếu; thì sự sắp xếp nhân sự trong ban lãnh đạo Chính phủ nhiệm kỳ mới của Việt Nam đã khiến sự đối chiếu này thêm một tầng liên kết về nhân lực và chuyên môn.

Là một quan chức kỹ trị thuộc thế hệ "7X" từng du học tại Đại học Tài chính Kinh tế Thượng Hải, tân Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Lê Minh Hưng hiểu logic kinh tế Trung Quốc rõ hơn các chính trị gia truyền thống.

Từ việc ông Tô Lâm cả hai lần công du đầu tiên đều là Trung Quốc, đến lý lịch học tập tại Trung Quốc của ông Lê Minh Hưng, ban lãnh đạo nhiệm kỳ này của Việt Nam ngày càng thể hiện xu hướng đưa kinh nghiệm phát triển và mô hình quản trị của Trung Quốc vào việc "phục vụ cho Việt Nam".

Có quan điểm cho rằng, việc ông 
Lê Minh Hưng lên nắm quyền đồng nghĩa với việc trong tương lai, sự hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc trong các lĩnh vực như tài chính kỳ vọng sẽ đạt được sự kết nối thông suốt và chuyên nghiệp hơn.

Ông Lê Minh Hưng đã cam kết trước Quốc hội rằng phương hướng chính sách của Việt Nam sẽ không dao động, "cái gì cần mở tiếp tục mở, cái gì cần cải cách tiếp tục cải cách". Tín hiệu này cho thấy rõ ràng Chính phủ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông sẽ tiếp tục cung cấp môi trường kinh doanh ổn định và có thể dự đoán được cho tất cả các nguồn vốn nước ngoài, bao gồm cả Trung Quốc.

"Việc ông Lê Minh Hưng nhậm chức Thủ tướng Việt Nam đánh dấu một quan chức kiểu học giả, phái thực dụng, người hiểu sâu sắc logic phát triển của Trung Quốc và có tầm nhìn quốc tế, đã đứng vào vị trí hạt nhân trong quyết sách kinh tế của Việt Nam." Ông Phùng Siêu nói, "Lý lịch tài chính phong phú và xu hướng ưu tiên cải cách tiệm tiến của ông đã cung cấp nền tảng chuyên môn mạnh mẽ hơn và môi trường chính sách có thể dự đoán được cho việc làm sâu sắc hợp tác Trung - Việt."

"Có thể dự kiến, trong nhiệm kỳ của ông, sự hợp tác giữa Trung Quốc và Việt Nam trong các lĩnh vực hạ tầng, kinh tế số, năng lượng sẽ đón nhận những bước tiến thực chất hơn."

4. Hợp tác sâu rộng trong "Khuôn khổ cân bằng"

Tất nhiên, Việt Nam không sao chép nguyên xi "mô hình Trung Quốc", lộ trình phát triển của họ thể hiện rõ đặc trưng của chủ nghĩa thực dụng và sự cân bằng đa phương hóa.

Một mặt Việt Nam hợp tác với Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc trong việc phát triển điện hạt nhân, quốc phòng để tránh phụ thuộc quá mức vào một quốc gia duy nhất. Mặt khác, trong các vấn đề liên quan đến lợi ích cốt lõi của quốc gia như an ninh dữ liệu và xây dựng 5G, Việt Nam đã chịu đựng được áp lực từ phương Tây và đưa ra lựa chọn thực dụng dựa trên nhu cầu của chính mình.

Đối với Việt Nam, sức hấp dẫn của Trung Quốc là đa chiều và thực dụng: Trung Quốc vừa là "kỹ sư" giải quyết điểm nghẽn hạ tầng, vừa là "thị trường lớn" và "nhà cung cấp" tiếp nhận chuyển dịch công nghiệp, đồng thời cũng là "người thầy" về kinh nghiệm quản trị có thể tham khảo, và hơn hết là "đối tác an ninh" đáng tin cậy trong môi trường quốc tế phức tạp. Lựa chọn con đường của Việt Nam không phải là "sao chép" đơn giản, mà là trên cơ sở hiểu biết sâu sắc và tận dụng "kinh nghiệm Trung Quốc", kết hợp với tình hình thực tế trong nước và môi trường quốc tế để đi ra một con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực dụng và đa nguyên.

Thế giới không thiếu những suy đoán liên quan, một bộ phận dư luận trong khi lạc quan về hợp tác thực dụng Trung - Việt cũng đưa ra những cách giải thích theo thói quen về chiến lược đối ngoại của Việt Nam.

Theo quan điểm của Nguyễn Khắc Giang (Nguyen Khac Giang), học giả thỉnh giảng tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á Singapore, Việt Nam áp dụng cách làm kép là "vừa tích cực học tập mô hình Trung Quốc, vừa có lựa chọn trong việc chống lại những ảnh hưởng từ bên ngoài".

Đồng thời, hãng tin Reuters nhắc nhở sự nhạy cảm lịch sử xung quanh quyền lợi biển "vẫn là phần gai góc nhất trong mối quan hệ giữa hai nước láng giềng này".

Tuy nhiên, đài NHK Nhật Bản nói thẳng rằng, vấn đề Biển Đông không ngăn cản hai bên làm sâu sắc hợp tác trong lĩnh vực kinh tế thương mại.

Học giả Alexander Vuving từ Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á - Thái Bình Dương Hoa Kỳ dự báo Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục duy trì sự linh hoạt chiến lược giữa Trung và Mỹ.

Ông thậm chí còn diễn giải nếu Việt Nam tăng cường quan hệ với Trung Quốc mà thiếu đi các biện pháp đối trọng, "không chỉ gây ra tác động tiêu cực đến an ninh, sự thịnh vượng và tính tự chủ của Việt Nam, mà còn xung đột với quan hệ của Việt Nam với Mỹ và phương Tây".

Loại tiếng nói này phản ánh tâm lý phức tạp của phương Tây trước việc Trung Quốc và Việt Nam xích lại gần nhau.

Đài truyền hình CNA của Singapore cho rằng việc cân bằng quan hệ với Trung Quốc và Mỹ phù hợp với lợi ích quốc gia Việt Nam, chiến lược này dự kiến sẽ được duy trì không đổi trong nhiều năm tới.

Từ chu kỳ dài hơn, chuyến thăm Trung Quốc của ông Tô Lâm còn phản ánh sự thay đổi trong định vị bản thân của Việt Nam.

Việt Nam đang ngày càng định vị mình là một "bên tham gia tích cực trên võ đài quốc tế", và nâng tầm ngoại giao trở thành một trong những trụ cột cốt lõi của phát triển quốc gia.

Khởi xướng Diễn đàn Tương lai ASEAN, tổ chức Đối thoại chiến lược Trung - Việt "3+3", đăng cai hội nghị APEC, đảm nhiệm vai trò Chủ tịch luân phiên ASEAN trong tương lai... cộng với việc tham gia gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc tại Châu Phi trong thập kỷ qua, tất cả đều cho thấy Hà Nội sẵn lòng gánh vác nhiều trách nhiệm toàn cầu hơn.

Trong mắt các nhà phân tích, sự tham gia toàn cầu không ngừng mở rộng của Việt Nam giúp định hình hình ảnh của nước này như một cường quốc tầm trung mới nổi, thể hiện tư thế sẵn sàng đóng góp tích cực hơn cho sự nghiệp hòa bình quốc tế.

Những biện pháp này có nghĩa là Việt Nam đang chuyển từ "người ứng phó thụ động" trong quá khứ sang một vai trò chủ động hơn.

"Tôi cho rằng đây chính là lý do Đảng Cộng sản Việt Nam nâng công tác ngoại giao lên vị trí quan trọng và lâu dài." Lê Hồng Hiệp (Le Hong Hiep), điều phối viên chương trình nghiên cứu Việt Nam tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Singapore, cũng cho biết trong bối cảnh bất ổn địa chính trị gia tăng, Việt Nam đang cố gắng "bảo vệ an ninh quốc gia từ khoảng cách xa hơn", ngoại giao vì thế được nâng lên vị trí quan trọng hơn.

Lý Lương Phúc (Lye Liang Fook), nghiên cứu viên cao cấp của viện này, cũng cho rằng trong điều kiện thiết lập mục tiêu tăng trưởng cao, việc Việt Nam tìm kiếm ảnh hưởng quốc tế lớn hơn là "điều không gây ngạc nhiên".

"Quan trọng hơn là, trong môi trường lớn khi một loạt chính sách và hành động của Mỹ gây ra những cơn gió ngược toàn cầu, Việt Nam và các quốc gia khác cần hành động tích cực hơn để đa phương hóa rủi ro, khai phá cơ hội thị trường mới, và hợp tác với các đối tác chính để duy trì sự phát triển và ổn định." Ông Lý Lương Phúc nói.

Hướng tới tương lai, ông Phùng Siêu dự báo lộ trình hợp tác Trung - Việt không phải là đường bằng phẳng, bóng đen địa chính trị của cuộc chơi nước lớn, sự tồn tại lâu dài của vấn đề Biển Đông, cũng như tính phức tạp của chính trị nội bộ Việt Nam đều cấu thành những thách thức cần ứng phó thận trọng trong quan hệ song phương.

Ông cho biết, hướng đi của quan hệ Trung - Việt trong tương lai phần lớn sẽ phụ thuộc vào việc liệu hai bên có thể tiếp tục làm lớn "chiếc bánh" hợp tác, và thông qua cơ chế giao lưu hiệu quả để kiểm soát tốt những bất đồng, để các lợi ích chung thực dụng luôn chiếm ưu thế.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét