Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2026

Nhật Bản sẽ thành thứ gì trong thế giới ngày nay ?

Nhật Bản sẽ thành thứ gì trong thế giới ngày nay ?
Tôi cực kỳ ghét người Nhật, thái độ này bắt nguồn từ đầu năm 1983 khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp mời một đoàn các nhà khoa học thuộc Viện hàn lâm khoa học Nhật Bản, sang thăm và làm việc ở nước ta. Hôm đó tôi có dự và được giao nhiệm vụ ghi lại các phát biểu và biên tập thành bài làm tài liệu cho lãnh đạo cấp cao tham khảo. Một phần của bài viết được ai đó bạn của mẹ tôi đăng trên tạp chí Thông tin kinh tế xã hội của Ủy ban khoa học xã hội nhà nước năm 1983, với tên tác giả là tôi. Sau đó họ có liên hệ với mẹ tôi để trả tiền nhuận bút. Hình như bài đó được họ đặt tên là: "Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai".
Trong buổi thuyết trình đó, các nhà khoa học Nhật bản ra sức khoe khoang những thành tựu vĩ đại của Nhật kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Tất nhiên họ khoe là đúng vì họ có quyền như thế. Nhưng có điều họ khoe quá lố, kèm theo đó là coi thường các nước nghèo. Điều làm tôi có ấn tượng xấu là họ liên tục hút thuốc lá, hết người nọ tới người kia đua nhau hút thuốc ngay trong phòng, trước mặt rất nhiều lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta; gạt tàn trên bàn họ đầy ắp các đầu mẩu thuốc lá. Đáng nói thêm là không có người Việt Nam nào đang dự trong phòng hút thuốc lá.

Hơn nữa họ hút toàn thuốc lá rất cao cấp, nhìn vô cùng bắt mắt, làm nhiều người quan tâm. Đấy là cái gì nếu không phải là văn hóa, văn minh, là thể hiện trước đám người Việt Nam đang thiếu ăn từng bữa mà họ biết rất rõ ? Tôi rất ghét thuốc lá, nhìn thấy người hút thuốc lá là tôi phải đứng tránh ra xa. Từ đó tôi đã không ưa người Nhật.

Sau đó là hiện tượng truyền thông và kinh tế Nhật Bản bùng nổ trong suốt thập niên 1980, nhất là khoảng thời gian từ sau Thỏa ước Plaza (1985) đến khi bong bóng kinh tế Nhật Bản tan vỡ vào đầu những năm 1990. Vào thời gian đó, đồng Yên tăng giá phi mã so với đồng USD, khiến người Nhật bỗng chốc trở nên cực kỳ giàu có khi ra nước ngoài. Họ bắt đầu thực hiện những thương vụ thâu tóm khiến cả thế giới (đặc biệt là người Mỹ) phải "rùng mình". Thế là tự nhiên xuất hiện câu nói: "Người Nhật mua cả thế giới".

Dù không biết ai là người đầu tiên nói chính xác cụm từ này, nhưng báo chí phương Tây (như The New York Times, Time, Newsweek) đã liên tục giật những tiêu đề mang tính báo động về việc Nhật Bản "xâm lăng" kinh tế. Các thương vụ tiêu biểu khiến thế giới tin rằng Nhật Bản đang "mua tất cả" bao gồm: Mitsubishi thâu tóm Trung tâm Rockefeller (1989), tức là biểu tượng của sự thịnh vượng Mỹ tại New York rơi vào tay người Nhật. Sony mua lại Columbia Pictures (1989) cho thấy người Nhật bắt đầu nắm giữ một phần "linh hồn" văn hóa điện ảnh Mỹ. Bên cạnh đó, các đại gia Nhật vung tiền mua những bức tranh đắt nhất thế giới lúc bấy giờ, như bức Hoa hướng dương của Van Gogh.

Năm 1989, khi tôi ở Pháp, tôi có một số bạn học người Nhật, trong đó có một cô rất mê tôi, trực tiếp tỏ tình với tôi trước khi cô ta về nước. Thái độ của họ lúc đó là coi thường tất cả; ở đâu cũng như ông chủ rất nổi bật. Họ hành xử như tỷ phú được thừa kế từ bố mẹ, tức là tiền nhiều như nước nhưng làm ra rất dễ dàng. Nhiều việc họ làm tôi chứng kiến, phải thừa nhận là họ tiêu tiền không cần nghĩ nhưng thái độ của họ thì không văn minh.

Nếu nói về một nhân vật biểu tượng cho sự tự tin và trở thành ngạo mạn của Nhật Bản thời đó, người ta thường nhắc đến Shintaro Ishihara. Năm 1989, ông cùng với Chủ tịch Sony Akio Morita viết cuốn sách nổi tiếng "The Japan That Can Say No" (Một Nhật Bản có thể nói không). Trong đó, Ishihara khẳng định sức mạnh công nghệ và kinh tế của Nhật Bản đã vượt qua Mỹ, và Nhật Bản không còn cần phải đứng dưới bóng của bất kỳ ai. Chính tinh thần này đã củng cố thêm niềm tin rằng Nhật Bản đang thực sự "thâu tóm" cuộc chơi toàn cầu.

Năm 1989, chính trị gia dân tộc chủ nghĩa cánh hữu Nhật Bản Shintaro Ishihara và đồng sáng lập Sony Akio Morita đã cùng viết cuốn “Nhật Bản có thể nói KHÔNG". Cuốn sách nhỏ này được viết vào thời kỳ đỉnh cao của bong bóng tài sản Nhật Bản, với lời lẽ thẳng thắn và cứng rắn, trực diện chỉ ra định kiến chủng tộc đằng sau các biện pháp trừng phạt thương mại của Mỹ đối với Nhật Bản, đồng thời lấy việc bá quyền quân sự của Mỹ dựa vào công nghệ bán dẫn của Nhật làm lý do, chủ trương Nhật Bản nên dựa vào lợi thế công nghệ này để nói “không” với Mỹ, và đề xuất con đường thay thế nhằm thoát khỏi sự phụ thuộc vào Mỹ.

Lập luận cấp tiến của cuốn sách này đánh dấu đỉnh cao của sự tự tin công nghiệp của Nhật Bản và tâm thế tìm cách vượt qua Mỹ về vận mệnh quốc gia. Ngay khi xuất bản, nó đã gây chấn động lớn tại Mỹ, thậm chí còn được Quốc hội Mỹ dịch sang tiếng Anh làm “tài liệu phản diện” để nghiên cứu.

Ngày nay, cuốn sách này đã tuyệt bản, và “dường như cũng không còn giá trị để tái bản”. Báo Financial Times của Anh thẳng thắn nói rằng, đến năm 2026, trái ngược hoàn toàn với việc câu nói “Nhật Bản có thể nói không” lại gây bàn luận sôi nổi, là thực tế dù nắm đa số tuyệt đối tại Quốc hội, nhưng giống như các thủ tướng thời hậu Thế chiến II, Nhật Bản dưới sự lãnh đạo của Sanae Takaichi vẫn là một quốc gia không thể nói “không” với Washington. Trước chính quyền Trump hành xử khó đoán và theo chủ nghĩa lợi ích là trên hết, Nhật Bản rơi sâu vào thế khó ngoại giao giữa phụ thuộc đối ngoại và tự chủ lựa chọn.

Bài viết dài đăng ngày 10/4/2026 trên b
áo Financial Times dẫn lời các nhà phân tích cho rằng, chính trường Nhật Bản đang thảo luận quanh các phương án thay thế như “liên minh cường quốc tầm trung”, nhằm tìm kiếm sự cân bằng giữa nhu cầu phòng thủ trước Trung Quốc và tính mong manh của liên minh Mỹ-Nhật. Tuy nhiên, do bị ràng buộc bởi lịch sử và thiết kế thể chế, cùng với sự phụ thuộc vào “ô hạt nhân” của Mỹ, Nhật Bản hiện vẫn mắc kẹt trong thế bị động “không thể nói không với Mỹ”, thiếu một “kế hoạch B” khả thi để thay thế hệ thống liên minh Mỹ-Nhật đang lung lay.

Các nhà phân tích quốc tế hiện nay đều thẳng thắn cho rằng Nhật Bản không có lựa chọn thay thế nào tốt hơn liên minh Mỹ-Nhật, và Washington hiểu rất rõ điều đó.

Khác với các nước như Brazil, Nhật Bản tự cho mình đang ở trong môi trường địa chính trị nguy hiểm, với “đối thủ giả định” là Trung Quốc, Triều Tiên và Nga ở ngay sát bên; các đồng minh khu vực khác thì khó can dự sâu vào vấn đề châu Á, còn Nhật Bản nếu tự mình ứng phó các mối đe dọa này thì “cần đầu tư liên tục từ 10 đến 15 năm”.

Nhiều ý kiến cho rằng “Nhật Bản nếu muốn điều chỉnh đường lối, chỉ có hai lựa chọn: hoặc là cho rằng Trung Quốc không phải mối đe dọa thực sự và chấp nhận thực tế đó”, “hoặc là bóc trần cái gọi là sự cần thiết của quân đội Mỹ đồn trú tại Nhật, nhưng điều này rất mạo hiểm.”

Giáo sư Tetsuo Kotani của Đại học Meikai, người cũng cho rằng “Tokyo không có lựa chọn nào khác”, nói rằng con đường thay thế để Nhật thoát khỏi phụ thuộc vào Mỹ chỉ có ba: tự sở hữu vũ khí hạt nhân để đảm bảo an ninh, xây dựng mạng lưới phòng thủ châu Á, hoặc chấp nhận “Trung Quốc lãnh đạo châu Á”, nhưng ba con đường này hoặc khó thực hiện, hoặc “hoàn toàn không thể”.

“Vì vậy chúng ta chỉ còn phiên bản nâng cấp của kế hoạch A: tăng cường quan hệ với Mỹ, tăng chi tiêu quốc phòng, và làm sâu sắc hợp tác quốc phòng,” Kotani nói, “không có kế hoạch B.”

Dựa trên nhận định này, chính phủ Takaichi đang duy trì một mối quan hệ mà bên ngoài nhìn vào gần như mang tính “chịu đựng bị ngược đãi”.

“Quan hệ Mỹ-Nhật đang biến thành một mối quan hệ tồi tệ đến cực điểm, gần như mang tính ngược đãi,” chuyên gia Nhật Bản Estevez-Abe của Đại học Syracuse, New York, nói thẳng, “Nhật Bản càng chiều lòng, thì lại càng bị đối xử tệ hơn.”

Nhật Bản “vui mừng quá sớm”

Financial Times nhắc lại rằng vào năm 2018, tức năm thứ hai trong nhiệm kỳ đầu của Trump, cố Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, người thầy chính trị của Takaichi, đã buộc phải đưa ra một lời giải thích bất thường với vị tổng thống Mỹ này.

Ông phải làm rõ với Trump rằng Nhật Bản không hề dùng cách “ném bóng bowling lên xe ô tô” để kiểm tra độ chịu lực của xe Mỹ, nhằm cố tình dựng rào cản ngăn xe nhập khẩu từ Mỹ. Sau một quá trình vận động đầy khó khăn, Trump mới bị thuyết phục.

“Nhưng đến khi Trump bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai, ông ấy lại nhắc lại chuyện thử nghiệm bowling của Nhật. Với ông ta, không có lời nào là chắc chắn cả,” một thành viên phái đoàn tháp tùng Abe khi đó nói.

Một thành viên trong nhóm cố vấn thân cận của Takaichi thừa nhận sự thất thường của Trump trong vấn đề “thử nghiệm bowling” không chỉ đơn giản là do tính cách kỳ quặc của ông, mà còn phản ánh một vấn đề sâu xa hơn: Trump khiến những đồng minh được Mỹ ủng hộ nhất từ trước đến nay, đặc biệt là Nhật Bản, rơi vào cảm giác bất lực sâu sắc.

Năm ngoái, khi Trump áp thuế nhập khẩu cao trên toàn cầu, Nhật Bản ban đầu rất bất ngờ khi không được miễn trừ, sau đó buộc phải đạt thỏa thuận đồng ý đầu tư 5500 tỷ USD vào Mỹ. Dù phía Nhật bị tiết lộ đã chỉ trích Mỹ là “tống tiền kiểu mafia” trong nội bộ, nhưng trước việc Bộ trưởng Thương mại Mỹ Lutnick công khai chế giễu họ là “bỏ tiền để tránh họa”, họ cũng chỉ có thể nhẫn nhịn.

Cuối tháng trước, Takaichi lần đầu sang Mỹ và tổ chức hội nghị thượng đỉnh với Trump. Trước đó bà vừa thắng cử, đảo ngược thế yếu của Đảng Dân chủ Tự do, giành đa số tuyệt đối tại Hạ viện.

Một nhà ngoại giao Mỹ mô tả rằng trong suốt cuộc gặp, bà đã sử dụng “sự tâng bốc ở mức vũ khí hóa và chiến lược giao dịch” (weapons-grade flattery and strategic transactionalism). Khi gặp Trump tại Phòng Bầu dục, bà mở đầu bằng câu: “Donald, chỉ có ông mới có thể mang lại hòa bình thế giới.” Sau đó lại dâng lên một loạt dự án đầu tư mới trị giá 730 tỷ USD vào Mỹ.

Chiến lược của bà dường như có hiệu quả. Trump không ép Nhật vượt qua giới hạn hiến pháp để điều quân đến eo biển Hormuz, cũng không đưa ra yêu cầu mà Nhật lo ngại nhất là buộc Tokyo phải gánh thêm chi phí cho quân đội Mỹ đồn trú.

Chuyến đi này bà còn nhận được nhiều cam kết, trong đó có việc “Tokyo vẫn vững chắc dưới ô bảo vệ hạt nhân của Mỹ”.

Nhưng nhiều chi tiết trong cuộc gặp vẫn liên tục nhắc nhở về sự mong manh của liên minh này: khi chiến sự giữa Mỹ-Israel và Iran leo thang, Trump đặc biệt nhắc Takaichi rằng 90% dầu mỏ của Nhật phụ thuộc vào Trung Đông.

Khi bị hỏi tại sao không tham vấn đồng minh thân thiết nhất châu Á trước khi tấn công Iran, Trump còn công khai mỉa mai bằng sự kiện Trân Châu Cảng, nói rằng “không ai hiểu tấn công bất ngờ hơn Nhật Bản”. Phát biểu này gây bất mãn rộng rãi ở Nhật, nhưng quan chức Nhật chỉ có thể giảm nhẹ, thậm chí Ngoại trưởng Toshimitsu Motegi còn nói việc nhắc đến Trân Châu Cảng là “bình thường”.

Có lẽ điều duy nhất đáng mừng là tại hội nghị có không khí tinh tế này, Nhật ít nhất đã tránh bị Mỹ chỉ trích “không hỗ trợ trong chiến tranh với Iran”. Trump khi đó còn khen Nhật “chủ động gánh vác trách nhiệm”.

Tuy nhiên, người Nhật nhanh chóng nhận ra họ đã vui mừng quá sớm. Thứ Hai tuần này, trong một cuộc họp báo đầy căng thẳng, Trump đã lần lượt chỉ trích các đồng minh mà ông cho rằng đáng lẽ phải hỗ trợ nhưng không điều quân tham chiến chống Iran.

Sau NATO, Australia và Hàn Quốc, ông cũng không bỏ qua Nhật, và còn nhấn mạnh đầy ẩn ý rằng hiện có 50.000 quân Mỹ đồn trú trên khắp Nhật Bản.

Báo Anh chỉ ra trong thời gian dài, mô hình Mỹ cứng rắn còn Nhật mềm mỏng đã giúp Nhật tích cực tham gia các tổ chức siêu quốc gia và trở thành một trong những nền kinh tế thành công nhất lịch sử. Nhưng giờ đây, tình hình đã thay đổi hoàn toàn.

Chủ tịch Hội Nhật Bản tại New York, Joshua Walker, cho biết: “Nhật Bản vốn nổi tiếng với sức mạnh mềm, giờ buộc phải thích nghi nhanh với thế giới do sức mạnh cứng chi phối, và vị thế liên minh của họ cũng hoàn toàn khác trước.”

“Liên minh từng tưởng như không thể phá vỡ giờ đã lung lay. Thế giới quan giao dịch của Trump khiến liên minh này hoàn toàn lộ ra rủi ro… Nhật Bản cuối cùng nhận ra rằng mối quan hệ vốn được xem là đương nhiên này giờ phải được xử lý từng việc một, từng ngày một.”

Takaichi làm Trung Quốc phật ý, “sự im lặng của Mỹ vang dội như sấm”

Takaichi Sanae vừa sợ Trump “đột ngột gây khó dễ”, vừa sợ ông “không nói gì”.

Do phát ngôn sai lầm liên quan đến Đài Loan của Takaichi và việc Nhật tăng tốc quân sự hóa, quan hệ Trung-Nhật gần đây rơi xuống mức thấp. Nhưng điều khiến Nhật bất ngờ là Washington không lên tiếng ủng hộ. Ngoài một bài đăng muộn màng trên mạng xã hội của Đại sứ Mỹ tại Nhật, Trump và đội ngũ của ông duy trì “sự im lặng vang dội”.

Trong bối cảnh đó, một mục tiêu quan trọng khác của chuyến thăm Mỹ lần này của Takaichi cũng rất rõ ràng: bà phải nhận được cam kết rõ ràng từ Washington rằng an ninh của Nhật vẫn được Mỹ đảm bảo, đồng thời xác nhận Trump sẽ không có thay đổi lớn trong chính sách với Trung Quốc.

Cuối cùng, Trump chỉ hứa bằng lời rằng sẽ “ca ngợi Nhật Bản hết lời” trong chuyến thăm Trung Quốc. Sau cuộc gặp, Nhà Trắng tuyên bố hai bên cam kết “duy trì hòa bình và ổn định tại eo biển Đài Loan”, nhưng nguồn tin cho Financial Times biết câu này được thêm vào theo yêu cầu mạnh mẽ của Tokyo; phía Nhật lại cố tình tránh nhắc tới để không chọc giận Trung Quốc.

Chuyên gia quan hệ Mỹ-Nhật Hatsue Shinohara của Đại học Waseda cho rằng hội nghị vốn nhằm thể hiện sự vững chắc của liên minh lại phơi bày không gian hành động rất hạn chế của Nhật.

“Quan hệ Trung-Nhật xấu đi nghiêm trọng, chúng tôi không thể rời bỏ đồng minh,” bà nói, “chúng tôi đã quen với việc làm một quốc gia phụ thuộc.”

Khi nói đến kế hoạch thăm Trung Quốc của Trump, các quan chức Nhật càng lo lắng. Báo cáo cho biết dù giới học thuật Mỹ hầu như không tin chuyến đi này có thể đạt tầm vóc lịch sử như chuyến thăm năm 1972 của Nixon, phía Nhật vẫn lo Trump sẽ vội đạt được một thỏa thuận lớn với Trung Quốc để tạo di sản chính trị.

Quan chức Nhật nói thẳng rằng nếu Mỹ và Trung Quốc đạt một thỏa thuận kiểu “G2”, đặt quan hệ song phương lên hàng đầu, thì đó sẽ là “ác mộng” với Tokyo.

“Đó chính là điều tôi lo nhất,” cựu Ngoại trưởng, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Taro Kono nói, ông lo rằng Nhật hầu như không thể ngăn điều đó.

“Chúng ta không có nhiều lựa chọn, và lẽ ra phải thay đổi từ nhiều năm trước.” Ông cho rằng Nhật nên xây dựng ngành công nghiệp quốc phòng mạnh hơn, thậm chí sửa đổi hiến pháp sớm, “nhưng tất cả đều rất khó.”

Khi thắng cử tháng 2, Takaichi từng hứa thúc đẩy sửa đổi hiến pháp lần đầu sau chiến tranh. Các nghị sĩ đảng cầm quyền cho biết phương án khả thi nhất là sửa lại Điều 9.

Điều 9 quy định Nhật vĩnh viễn từ bỏ chiến tranh và việc sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp quốc tế; để thực hiện điều này, không duy trì lực lượng vũ trang và không công nhận quyền tham chiến của quốc gia.

Nhưng những năm gần đây, Nhật đã mở rộng cách diễn giải điều khoản này, xây dựng lực lượng phòng vệ đáng kể và nâng chi tiêu quốc phòng lên khoảng 2% GDP.

“Đa số nghị sĩ không cho rằng cần giảm phụ thuộc vào Mỹ”

Ngoài mở rộng quân sự, Taro Kono còn cho rằng hành động gần đây của Mỹ cho thấy “các cường quốc tầm trung như Nhật” cần liên kết, ví dụ xây dựng “Liên Hợp Quốc phiên bản 2.0”, để tránh bị thao túng bởi một “đồng minh không đáng tin”.

“Những quốc gia muốn xây dựng trật tự thế giới mới phải hành động ngay.” Ông cho biết quan điểm này đang dần được ủng hộ trong chính giới Nhật.

Một số đồng minh khác của Mỹ cũng có quan điểm tương tự: Thủ tướng Canada Carney tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos năm nay kêu gọi các cường quốc tầm trung đoàn kết khi trật tự quốc tế dựa trên luật lệ đang sụp đổ; Thủ tướng Tây Ban Nha Sanchez thì phản đối cuộc tấn công “phi pháp” của Trump vào Iran và từ chối cho Mỹ sử dụng căn cứ quân sự.

Chuyên gia nổi tiếng về quan hệ Mỹ-Nhật Shusuke Takahara cũng cho rằng Tokyo nên tìm kiếm hợp tác vượt ra ngoài liên minh Mỹ-Nhật.

Ông cho rằng Nhật nên tận dụng khoảng trống ngoại giao hiện nay, không chỉ trở thành đối tác đáng tin cậy nhất của các nước châu Á mà còn chuẩn bị cho một thế giới rộng lớn hơn với sự thay đổi căn bản trong lập trường của Mỹ. “Liên minh cường quốc tầm trung là khả thi và cần mở rộng, Nhật cũng cần quan hệ đối tác đa dạng hơn.”

Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận đa số nghị sĩ cầm quyền không cho rằng cần giảm phụ thuộc vào Mỹ.

Một số nghị sĩ và quan chức nói với Financial Times rằng trong hệ thống chính trị và quan liêu Nhật tồn tại một “trường phái Mỹ”, chủ trương duy trì quan hệ chặt chẽ tối đa với Washington và coi mọi khủng hoảng chỉ là trục trặc tạm thời có thể kiểm soát bằng thỏa hiệp.

Những người ủng hộ trường phái này cho rằng dù Trump gây áp lực và phát biểu gay gắt, các văn kiện chính sách chủ chốt trong nhiệm kỳ hai vẫn thể hiện cam kết với ổn định châu Á. Điều này thể hiện ở chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ vẫn cam kết duy trì khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương “tự do và rộng mở”.

Họ cũng cho rằng Nhật nên xoa dịu Trump và chờ ông rời nhiệm sở. Ngay cả khi Mỹ không thể hoàn toàn quay lại trạng thái trước đây, quan hệ Mỹ-Nhật vẫn rất có giá trị.

Chuyên gia Christopher Johnstone, từng làm việc tại Lầu Năm Góc và Nhà Trắng, có cái nhìn lạc quan hơn. Ông cho rằng dù Nhật “rất lo ngại” về độ tin cậy dài hạn của liên minh, nhưng chưa “rơi vào hoảng loạn”.

“Chuyến thăm Mỹ của Takaichi cho thấy Nhật vẫn quyết tâm tìm điểm chung với Trump,” ông nói.

“Tokyo vẫn tin rằng rốt cuộc Mỹ cần Nhật để đạt mục tiêu tại châu Á,” ông bổ sung, “(nhưng) thực tế là trong tương lai gần, Nhật không có lựa chọn nào khác ngoài liên minh với Washington.”

Trong khi đó, quan chức cấp cao Nhật cho biết hợp tác cấp công việc giữa hai nước đã trở nên “rất yếu” ở nhiều lĩnh vực. Tokyo lo ngại Mỹ đang coi sự ủng hộ của Nhật là điều hiển nhiên. Hiện tại, Nhật chỉ có thể tiếp tục trả “cái giá lớn” về chính trị và kinh tế để duy trì mối quan hệ đồng minh ngày càng biến động và kém đáng tin cậy này.

Tôi phải đi làm, không biết tiếp được. 

Tóm lại, tôi không ưa Nhật, Nhật Bản là một nước đế quốc tàn ác và đầy tham vọng. Đáng tiếc khi ngay từ khi bắt đầu đổi mới cho đến tận ngày nay, Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào Nhật... Thực tế Nhật chỉ cho Việt Nam vay tiền, không giúp gì về phát triển, từ chuyển giao công nghệ đến xây dựng luật pháp và chính sách phát triển. Đổi lại, các doanh nghiệp Nhật Bản tha hồ làm mưa làm gió ở Việt Nam.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét