III. KiỂm đỊnh CÁC GIẢ THUYẾT kinh tẾ lƯỢNG ĐỐI VỚI Mô
Hình THỰC NGHIỆM GiẢi Thích BIẾN ĐỘNG CỦA NHẬP KHẨU
Để
khẳng định một phương trình kinh tế lượng là tốt và có thể sử dụng được để phân
tích, dự báo kinh tế, cần phải tiến hành nhiều kiểm định khác nhau đối với cả
phương trình cũng như đối với từng biến tham gia trong phương trình. Tuy nhiên,
do khuôn khổ bài viết, dưới đây chỉ xin trình bày 4 kết quả kiểm định cơ bản
nhất đối với phương trình kinh tế lượng thực nghiệm giữ lại cuối cùng là
. DIM
= 289,32 DRER +
0,9025 DEX
1. Kiểm định khả năng tự tương quan
của các sai số
Hiện tượng tự tương quan của các sai số thường xảy ra khi thực hiện hồi quy với các chuỗi số thời gian tương đối dài. Để ước lượng mô hình trên, chúng ta đã sử dụng chuỗi số dài 19 năm nên rất cần thực hiện việc kiểm định này. Nếu không kiểm định, trong khi trên thực tế mô hình có hiện tượng tự tương quan của các sai số, thì không chỉ sẽ có những kết quả ước lượng khác tốt hơn so với ước lượng thu được từ phương pháp hồi quy bình phương cực tiểu nguyên gốc mà còn phát sinh khả năng một số giả thuyết thống kê đặt ra không đúng. Kiểm định thống kê Durbin - Watson nêu trên dù rất hữu ích nhưng chỉ cho phép loại bỏ giả thuyết tự tương quan bậc 1 trong khi không cho phép loại bỏ những trường hợp tự tương quan khác…
Để đơn giản,
trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng kỹ thuật kiểm định LM để xem xét sự tồn
tại của hiện tượng tự tương quan của các sai số ở các cấp cao hơn 1, qua đó
cũng khẳng định mô hình giữ lại ở trên là mô hình tốt nhất dù đã ước lượng nó
bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy bình phương cực tiểu nguyên gốc hay bất
kỳ phương pháp kinh tế lượng nào khác.
Kiểm định tương
quan chuỗi LM tính toán nhân tử Lagrange Multiplier (LM) theo phương pháp của
Breusch – Godfrey áp dụng cho các các giá trị trễ và không trễ của biến phụ
thuộc DIM trong phương trình hồi quy. Kiểm định này thực chất là hồi quy biến
sai số của phương trình hồi quy nêu trên với các biến giải thích bên vế phải và
thêm biến sai số nhưng ở các cấp trễ khác nhau.
Vì thống kê DW
đã khẳng định không có tương quan chuỗi cấp 1 nên ở đây chỉ cần kiểm định cho
một số cấp cao hơn 1.
Bảng 3: Kết quả
kiểm định hiện tượng tự tương quan của các sai số bằng LM-test (Breusch-Godfrey
Serial Correlation LM Test)
Giả
thuyết Ho |
2
trễ |
3
trễ |
4
trễ |
Không
có hiện tượng tự tương quan của các sai số |
Thống kê F: 0,570 Xác xuất: 0,526 Kết
luận: Ho được chấp nhận |
Thống kê F: 0,356 Xác xuất: 0,785 Kết
luận: Ho được chấp nhận |
Thống kê F: 0,252 Xác xuất: 0,903 Kết
luận: Ho được chấp nhận |
Kết quả kiểm
định được trình bày trong bảng … cho thấy các p-value (xác xuất) đều lớn hơn
0,05 tức là có thể loại bỏ giả thuyết tồn tại hiện tượng tự tương quan của các
sai số ở cấp cao hơn 1 đối với mô hình giữ lại ở trên (phương trình 4).
2. Kiểm định tính thuần nhất của các
sai số (homoscedasticity)
Giả thuyết về
tính thuần nhất của các sai số đòi hỏi phương sai của các sai số không đổi.
Trong trường hợp các sai số không thuần nhất (heteroscedasticity), các thống kê
T sẽ không ổn định, tức là sẽ không chắc chắn các biến trong mô hình có thực sự
có vai trò tham gia giải thích biến động hàng năm của kim ngạch nhập khẩu hay
không. Ngoài ra, khi các phương sai bị chệch, các kết quả ước lượng bình phương
nhỏ nhất sẽ không giải thích có hiệu quả. Do đó, việc kiểm định để loại bỏ giả
thuyết không thuần nhất là rất cần thiết.
Có rất nhiều
phương pháp để kiểm định khả năng không thuần nhất của các sai số đối với mô
hình nêu trên (giả thuyết Ho). Ở đây chúng tôi sử dụng kỹ thuật thông dụng nhất
là kiểm định White. Kiểm định này dựa trên hồi quy chuỗi bình phương các sai số
của phương trình nhập khẩu gốc với các biến giải thích và thêm các chuỗi bình
phương của các biến giải thích.
Kết quả kiểm
định cho thống kê F là 0,3072 rất nhỏ trong khi xác xuất là 0,8999 rất lớn. Như
vậy xác xuất bác bỏ giả thuyết H0 về hiện tượng không thuần nhất của các sai số
rất cao chứng tỏ và giả thuyết Ho bị bác bỏ; tức là mô hình đảm bảo được tính
thuần nhất của các sai số.
3. Kiểm định tính ổn định của các hệ
số
Để khẳng định mô
hình giữ lại là tốt, cần phải kiểm định xem liệu quan hệ phụ thuộc giữa những
biến động của nhập khẩu và những biến động của các biến giải thích có ổn định
theo thời gian hay không, hay là khi thêm hoặc bớt một số quan sát thì hệ số
của các biến giải thích sẽ thay đổi khá mạnh đến mức không thể chấp nhận được.
Để kiểm định, có
thể sử dụng kỹ thuật Chow, rất thích hợp đối với các chuỗi số tương đối ngắn,
khoảng trên dưới 20 quan sát đối với phương trình có 3-4 biến giải thích. Tuy
nhiên phương trình ước lượng nhập khẩu ở đây chỉ có 2 biến giải thích nên kết
quả kiểm định Chow sẽ cho độ chính xác rất cao.
Để thực hiện
kiểm định Chow, chúng ta cần phải chọn ra một số năm đặc biệt đã diễn ra những
biến động lớn so với xu thế để kiểm định xem tại những năm đó, có hiện tượng
mất ổn định của các hệ số ước lượng trong mô hình giữ lại hay không.
Đối với mô hình
này, trước tiên chúng tôi chọn năm 2009 là năm kim ngạch nhập khẩu giảm sau
những biến động bất thường về kinh tế vĩ mô, nhất là tỷ lệ lạm phát trong nước
năm 2008 lên tới 21% là mức cao nhất trong thời kỳ từ năm 1991 đến nay (xem
minh họa trên đồ thị).
Đồ thị Tiến
triển của kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 2000-2019 (triệu USD)
Kết quả kiểm
định Chow đối với năm 2009 cho thấy thống kê F và xác xuất lần lượt là 2,433 và
0,121. Như vậy, với các thông số này, nhất là xác xuất lớn hơn 5%, chúng ta
không thể bác bỏ giả thuyết về tính ổn định của các hệ số ước lượng trong mô
hình giữ lại.
Tiếp đến, chúng
tôi chọn năm 2016 vì đây là năm tỷ lệ lạm phát giảm đột ngột mạnh đánh dấu bước
ngoặt trong quá trình giảm tỷ lệ lạm phát ở nước ta, đồng thời đây cũng là năm
thu hút đầu tư nước ngoài chậm lại đáng kể. Cả hai nhân tố này đều có tác động
mạnh tới nhập khẩu.
. Kết quả kiểm
định Chow cho thấy thống kê F và xác xuất lần lượt là 0,506 và 0,615. Như vậy,
với kiểm định này, chúng ta cũng không thể bác bỏ giả thuyết về tính ổn định
của các hệ số ước lượng trong mô hình giữ lại.
Như
vậy,
với 3 kết quả kiểm định kinh tế lượng cơ bản nêu trên, chúng ta có thể khẳng
định mô hình giữ lại (phương trình 4) thỏa mãn các yêu cầu về mặt kinh tế
lượng. Do đó, có thể chấp nhận sử dụng mô hình này để xác định những nhân tố
giải thích những biến động của kim ngạch nhập khẩu của nước ta. Đây cũng là các
nhân tố chính giải thích biến động hàng năm của kim ngạch nhập khẩu tính bằng
đô la Mỹ của nền kinh tế nước ta thời kỳ 2000-2019.
Kết
luận
Trong nghiên cứu
này, chúng ta đã xây dựng được một mô hình kinh tế lượng thể hiện được mối quan
hệ giữa kim ngạch nhập khẩu và các biến giải thích nó theo hai trường phái thương
mại quốc tế lớn, qua đó xác định được các nhân tố chính giải thích biến động
của kim ngạch nhập khẩu hàng hóa nước ta giai đoạn mở cửa và hội nhập mạnh mẽ
2000-2019.
Mô hình cuối
cùng thu được đã đảm bảo được các yêu cầu đề ra. Kết quả cho thấy các nhân tố của
lý thuyết thương mại quốc tế hiện đại và các nhân tố của lý thuyết chuỗi giá
trị toàn cầu đều tham gia giải thích nguyên nhân biến động của kim ngạch nhập
khẩu của nền kinh tế nước ta trong thời kỳ 2000-2019, trong đó nhân tố chính
của lý thuyết thương mại quốc tế hiện đại là tỷ giá thực; nhân tố chính này lại
gồm ba nhân tố thành phần là tỷ giá danh nghĩa đa phương, tỷ lệ lạm phát trung
bình của các nước bạn hàng và tỷ lệ lạm phát trong nước. Về phía lý thuyết
chuỗi giá trị toàn cầu, nhân tố chính xác định kim ngạch nhập khẩu là kim ngạch
xuất khẩu, theo nghĩa xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu thực hiện các công
đoạn theo phân công, hợp tác trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Điểm nhấn quan trọng
ở đây là mô hình không có biến trễ, tức là tất cả 4 biến trên đều có ảnh hưởng
đến kim ngạch nhập khẩu ngay trong năm. Điều này có nghĩa là bất cứ biến động
nào của tỷ giá danh nghĩa đa phương, tỷ lệ lạm phát trung bình của các nước bạn
hàng, tỷ lệ lạm phát trong nước và kim ngạch xuất khẩu đều có tác động ngay tới
kim ngạch nhập khẩu trong năm.
Đặc biệt, vì ý
nghĩa giải thích kim ngạch nhập khẩu của cả bốn nhân tố trên đều rất cao nên
không thể cho rằng các nhân tố của lý thuyết thương mại quốc tế hiện đại hay
nhân tố kim ngạch xuất khẩu của lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu đóng vai trò
quyết định tới biến động của kim ngạch nhập khẩu hàng hóa nước ta giai đoạn mở
cửa và hội nhập mạnh mẽ vừa qua và tới đây, mà cần xác định vai trò quan trọng
của cả bốn loại nhân tố trên như nhau.
Kết luận nêu
trên rất quan trọng vì nó có ý nghĩa rằng mọi chính sách dài hạn nhằm kiểm soát
biến động của nhập khẩu ở nước ta đều phải hướng tới kiểm soát được mối quan hệ
cân bằng giữa trong nước và quốc tế, tức là giữa tỷ giá danh nghĩa đa phương,
tỷ lệ lạm phát trung bình của các nước bạn hàng, tỷ lệ lạm phát trong nước và
kim ngạch xuất khẩu. Nếu chỉ thực hiện chính sách tỷ giá danh nghĩa cố định
hoặc chính sách tiền tệ chặt để kiểm soát lạm phát trong nước, trong khi giá cả
trên thị trường thế giới liên tục biến động thì tác dụng của các chính sách ổn
định trong nước sẽ chỉ ngắn hạn và có tác dụng hạn chế vì những phi cân bằng giữa
giá cả trong nước và quốc tế sẽ tăng lên, tạo nguy cơ biến động mạnh cả kim
ngạch xuất khẩu lẫn kim ngạch nhập khẩu. Mặt khác, nếu chỉ tập trung quản lý tỷ
giá và giá cả trong khi không chú ý đến các cải cách cơ cấu cần thiết để tháo
gỡ các khó khăn cho sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, không động viên, thúc
đẩy khu vực sản xuất hàng xuất khẩu phát triển, thì nguy cơ thiếu ngoại tệ phục
vụ nhập khẩu sẽ rất cao, đe dọa chính năng lực tham gia chuỗi cung ứng của các
doanh nghiệp trong nước và làm giảm nhập khẩu.
Do vậy, để kiểm
soát nhập khẩu dài hạn, kết quả phân tích từ mô hình kinh tế lượng cho thấy cần
có sự phối hợp chặt chẽ, hài hòa giữa các chính sách tỷ giá, tiền tệ, cơ cấu sản
xuất và thương mại hàng xuất khẩu./.
Tài liệu tham
khảo
1. Edwards S.
(1989) “Real Exchange Rate, Devaluation and Adjustment”, the MIT Press, 371
pages.
2. Baldwin, R.E.
and Lopez - Gonzalez, J. (2013), “Supply Chain Trade: a Portrait of Global
Patterns and Several Testable Hypothesis”, London: Centre for Economic Policy
Research (CEPR), CEPR Discussion Paper No. 9421.
3. Bayoumi,
Tamim, Jaewoo Lee, and Sarma Jayanthi, (2005), “New Rates from New Weights”,
IMF Working Paper 05/99
4. Daudin, G.,
Rifflart, C. and Schweisguth, D. (2009), “Who produces for Whom in the World
economy”, Paris: Obsevatoire Francais de Conjonctures Economicques (OFCE),
Documents de Travail de L’OFCE No. 2009 - 18.
5. Escaith, H.
(2008), “Measuring Trade in Value Added in the New Industrial Economy:
Statistical Implications”, Munich: Munich Personal RePEc Archive, MPRA Paper
No. 14454.
6. Fukunari
Kimura (2013), “How have production networks changed development strategies in
East Asia?”, WTO 2013
7. John Whitley
(1994), “A Course in Macroeconomic Modelling and Forcasting”, Harvester
Wheatsheaf.
8. Johnson, R.C.
and Noguera, G. (2012), “Accounting for Intermediates: Production Sharing and
Trade in Value Added”, Journal of International Economics 86 (2): 224 - 236.
9. Organisation
for Economic Cooperation and Development (OECD) (2013), Interconnected
Economies: Benefiting from Global Value Chains,
10. Conference
on Trade and Development (UNCTAD) (2013), Implications of Global Value Chains
for Trade, Investment, Development and Jobs, Report prepared for the G20
Leaders Summit, Saint Petersburg, September 2013.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét