Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

Hoan hô Iran đã chiến thắng, Tuyệt vời Iran

Hoan hô Iran đã chiến thắng, Tuyệt vời Iran
Iran được 300 tỷ đô la để tái thiết, phương Tây phải dỡ bỏ mọi trừng phạt
Chiến dịch quân sự kéo dài hơn ba tháng của Mỹ và Israel nhắm vào Iran đã kết thúc với chiến thắng thuộc về Iran. Tổng thống Mỹ Trump ngày 14/6 đã chính thức cho biết, Mỹ và Iran đã đạt được một thỏa thuận và sẽ ký kết vào ngày 19/6 tại Geneva. Cùng ngày, Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Iran cũng ra tuyên bố xác nhận hai bên đã đạt được "Bản ghi nhớ" về việc đình chiến. Bộ Ngoại giao Iran sau đó cũng lên tiếng xác nhận phát biểu của ông Trump. Hiện tại có thể thấy, việc Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận ngừng bắn đã trở thành sự thật.

Trong cuộc xung đột quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran này, các bên thu về lợi ích ra sao? Không còn nghi ngờ gì nữa, Iran đã trở thành kẻ chiến thắng. Theo văn bản thỏa thuận sơ bộ do Bộ Ngoại giao Iran công bố, trong số 14 điều khoản thuộc bản ghi nhớ ngừng bắn giữa Mỹ và Iran, hầu như điều nào cũng có lợi lớn cho Iran.

1. Mười bốn điều khoản này có thể chia thành các phần chính sau:

1.1. Vấn đề cốt lõi về ngừng bắn và chấm dứt chiến tranh: Mỹ cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của Iran, tôn trọng chủ quyền của Iran, chấm dứt chiến tranh trên tất cả các mặt trận, bao gồm cả Lebanon.

1.2. Yêu cầu về an ninh và lợi ích của Iran: Mỹ cam kết rút quân khỏi các khu vực xung quanh Iran, dỡ bỏ phong tỏa hàng hải và các lệnh trừng phạt đối với sản phẩm dầu mỏ của Iran, đổi lại là một thỏa thuận mở cửa lại Eo biển Hormuz dưới sự sắp đặt của Iran.

1.3. Nội dung về các sắp xếp tiếp theo: Mỹ và các đồng minh Trung Đông phải đưa ra kế hoạch lập quỹ tái thiết hậu chiến cho Iran trị giá 300 tỷ USD, dỡ bỏ hoàn toàn các lệnh trừng phạt cấp 1 và cấp 2 của Mỹ đối với Iran, đổi lại Iran cam kết không phát triển vũ khí hạt nhân.

1.4. Cơ chế giám sát và lập trường của Iran: Thỏa thuận cần thành lập một cơ chế giám sát và phải được Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc phê chuẩn. Đồng thời, Iran một lần nữa tái khẳng định lập trường kiên quyết của mình trong vấn đề làm giàu urani, và tuyên bố rằng cả lực lượng tên lửa lẫn sự hỗ trợ dành cho "Trục kháng chiến" (Axis of Resistance) đều không nằm trong phạm vi đàm phán.

2. Tại sao lại nói Iran đã thắng?

2.1. Chúng ta trước đây đã nhiều lần nhấn mạnh, muốn xem một thỏa thuận có lợi cho bên nào thì phải nhìn vào hai điểm:

Một là, nhìn vào nội dung cuối cùng của thỏa thuận so với yêu cầu ban đầu của hai bên, xem bên nào có "độ lệch" nhỏ nhất. Bên nào có thỏa thuận cuối cùng gần với yêu cầu ban đầu nhất thì bên đó có lợi và chiếm ưu thế hơn.

Hai là, nhìn vào tính cân bằng của thỏa thuận, xem bên nào phải trả giá nhiều hơn nhưng lại gánh vác ít nghĩa vụ hơn. Bên có chi phí chiến lược và lợi ích chiến lược không cân xứng chính là bên yếu thế trong thỏa thuận.

2.2. Rõ ràng, ở cả hai điểm này, Mỹ đều không giành được bất kỳ lợi lộc nào.

Xét điểm thứ nhất, chúng ta hẳn vẫn còn nhớ bộ dạng ngạo nghễ của ông Trump khi tuyên bố ám sát ông Khamenei vào ngày 1 tháng 3. Theo tính toán ban đầu của Mỹ, họ dự định áp dụng "gói giải pháp Venezuela" cho Iran: Nhà lãnh đạo mới của Iran do Mỹ chỉ định, thị trường năng lượng do Mỹ kiểm soát hoàn toàn, và toàn bộ quốc gia bị làm cho suy yếu đến mức không còn là mối đe dọa đối với Mỹ và Israel, Iran biến thành "sân sau" cho các công ty năng lượng và doanh nghiệp Mỹ. Vì vậy, lúc đó Trump đã thẳng thừng tuyên bố Iran phải "đầu hàng vô điều kiện", hạ vũ khí đầu hàng, rồi dâng cả chủ quyền, an ninh, tài nguyên và của cải cho Mỹ bằng cả hai tay.

Trong khi đó, yêu cầu chiến lược của Iran từ chỗ khá mơ hồ ở giai đoạn đầu, sau đó mới dần rõ ràng và hình thành nên một hệ thống: Vấn đề hạt nhân, Vấn đề tên lửa và Trục kháng chiến là không thể đàm phán; buộc người Mỹ phải rút quân, dỡ bỏ trừng phạt, đảm bảo không xâm phạm chủ quyền và an ninh của Iran; Eo biển Hormuz do Iran kiểm soát toàn bộ, Vịnh Ba Tư trên thực tế trở thành phạm vi ảnh hưởng của Iran; và yêu cầu Mỹ cùng đồng minh phải bồi thường chiến tranh cho Iran.

Kết quả, thỏa thuận cuối cùng đạt được giữa Mỹ và Iran ai ai cũng thấy rõ: Yêu cầu chiến lược của Mỹ nhằm đưa toàn bộ Iran vào "sân sau" Trung Đông của mình không thực hiện được một điều nào, ngược lại, hầu như tất cả các yêu cầu chiến lược của Iran đều được đáp ứng. Trong thỏa thuận ngừng bắn này, điều khoản cuối cùng có độ lệch nhỏ nhất với bên nào, mọi người đều đã tự có câu trả lời.

Xét tới điểm thứ hai, 14 điều khoản trong thỏa thuận được công bố lần này hầu như đều là phần Mỹ phải bỏ ra: Cam kết không can thiệp vào nội bộ và chủ quyền của Iran, rút quân khỏi các khu vực xung quanh Iran, dỡ bỏ trừng phạt, dỡ bỏ phong tỏa, giải phóng 12 tỷ USD tài sản bị đóng băng, bắt các đồng minh Trung Đông chi tiền tái thiết hậu chiến cho Iran... Tóm lại, những điều có thể đồng ý hay không thể đồng ý, Mỹ đều đã gật đầu.

Trong khi đó, thứ mà Mỹ đổi lại được chỉ là ba lời hứa suông từ Iran: một là không phát triển vũ khí hạt nhân, hai là trong các cuộc đàm phán tiếp theo sẽ thảo luận về cách xử lý urani đã làm giàu của Iran, ba là mở cửa lại Eo biển Hormuz, nhưng lại phải "dưới sự sắp đặt của Iran".

Việc không phát triển vũ khí hạt nhân là điều Iran đã hứa và nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại vô số lần từ thời cố Lãnh đạo tối cao Khamenei còn sống. Vấn đề urani làm giàu cũng là điều Bộ Ngoại giao Iran liên tục bày tỏ trong suốt thời gian xung đột. Còn Eo biển Hormuz tuy được mở lại, nhưng Iran đã nói rất rõ ràng: việc mở lại phải do Iran đứng ra sắp xếp. Cam kết và hành động của Mỹ là thực tế bằng xương bằng thịt, còn thứ Iran bỏ ra hoặc là lời hứa trên môi, hoặc là lấy ra một chút từ thứ vốn đã bỏ vào túi mình từ trước. Đặt hai bên lên bàn cân, những gì Mỹ bỏ ra và thu về trong thỏa thuận hoàn toàn mất cân đối. So với Mỹ, Iran đơn giản là "thắng đậm".


3. Đánh giá kết cục này như thế nào?

Thật lòng mà nói, một cuộc xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran đã phơi bày toàn bộ trình độ của chính quyền Trump cũng như tình cảnh chiến lược tiến thoái lưỡng nan hiện tại của Mỹ. Chúng ta có thể tóm gọn qua 3 điểm phân tích chiến lược sau:

Thứ nhất, chính quyền Trump bị ảnh hưởng nặng nề bởi các vấn đề nội bộ và sự biến động của thị trường năng lượng quốc tế. Điều này khiến hành động quân sự của ông Trump đối với Iran mang đậm màu sắc đầu cơ chiến lược. Ông buộc phải giải quyết xong vấn đề trước kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ của Mỹ, thậm chí là trước ngày Quốc khánh Mỹ 4/7. Đồng thời, ông luôn phải để mắt đến tác động của giá dầu tăng cao (do chiến sự) đối với người dân Mỹ để kiểm phiếu. Những yếu tố tạp nham này đã ép chặt quỹ thời gian thực hiện chiến dịch quân sự của Trump.

Thứ hai, chính quyền Trump hoàn toàn không chọn đúng thời điểm chiến lược để ra tay. Việc họ chọn khai hỏa vào cuối tháng 2 là hoàn toàn đi ngược lại thông lệ các chiến dịch quân sự trước đây của quân đội Mỹ tại Trung Đông. Khu vực Trung Đông bắt đầu nóng lên từ tháng 4, bước vào mùa hè khắc nghiệt từ tháng 5 và kéo dài đến tận mùa thu; đây là khoảng thời gian hoàn toàn không thích hợp cho các hoạt động quân sự. Việc chọn sai thời điểm một mặt do chịu áp lực từ yếu tố thứ nhất, mặt khác lại làm giảm giới hạn không gian xoay sở của chính họ.

Thứ ba, do năng lực sản xuất công nghiệp suy giảm, Mỹ và Israel không đủ khả năng phòng thủ trước làn sóng tên lửa đạn đạo và máy bay không người lái (UAV). Kết quả là họ đã phải gánh chịu tổn thất nặng nề khi thực chiến. Trong khi đó, dự trữ tên lửa đánh chặn phòng không của Mỹ và đồng minh có hạn, năng lực sản xuất lại khó gia tăng trong một sớm một chiều; điều này đã và đang trở thành điểm nghẽn năng lực chiến lược lớn nhất kìm hãm khả năng tác chiến bền bỉ của Mỹ và Israel. Hệ quả là sau 40 ngày xung đột với Iran, Mỹ phát hiện ra mình đã tiêu tốn gần một nửa lượng tên lửa đánh chặn dự trữ, một phần ba vũ khí tấn công tầm xa, và phải mất vài năm mới bù đắp lại được. Dưới áp lực của kho vũ khí cạn kiệt, họ buộc phải dừng tay.

Về phía Iran, một mặt nhờ vào thực lực của chính mình, mặt khác nhờ vào sự suy giảm sức mạnh tương đối của Mỹ, nên đã buộc Mỹ phải chấp nhận cầu hòa, thực chất là thua. Nếu thỏa thuận này thực sự được ký kết, Iran sẽ chính thức giành được lợi ích chiến lược vượt rất xa so với mức kỳ vọng. 

Ba thắng lợi nổi bật là:

Một là việc thu phí Eo biển Hormuz và Mỹ rút quân: Đến nay vẫn chưa rõ việc thu phí Eo biển Hormuz sẽ được thực hiện cụ thể ra sao. Nhưng nếu cuối cùng Iran thu được phí, cộng thêm việc Mỹ rút quân khỏi các khu vực xung quanh (đồng nghĩa với việc từ bỏ các căn cứ quân sự dọc bờ Vịnh Ba Tư), điều này gần như tương đương với việc Iran một mình nắm giữ quyền kiểm soát Eo biển Hormuz và quyền kiểm soát trên biển tại Vịnh Ba Tư. Sau này, các quốc gia Trung Đông muốn xuất khẩu dầu mỏ ra nước ngoài, theo đúng nghĩa đen, sẽ phải nhìn sắc mặt của Iran.

Hai là Quỹ đầu tư tái thiết do Mỹ và các đồng minh lập ra: Số tiền này Mỹ chắc chắn không chi, và Iran cũng không đời nào cho phép dòng vốn của Mỹ can thiệp vào. Khả năng cao cuối cùng Mỹ sẽ bắt các "vương gia" (các quốc gia dầu mỏ giàu có) ở Trung Đông chi tiền thay. Kết hợp với yếu tố thứ nhất, cộng thêm việc Mỹ thừa nhận ảnh hưởng của Iran đối với "Trục kháng chiến", điều này gần như giúp Iran có thể can thiệp sâu vào các quốc gia thuộc giáo phái Sunni trong tương lai. Thực tế, một số quốc gia biết điều như UAE đã bắt đầu trực tiếp gửi tiền cho Iran. Dẫu sao, một tay nắm Eo biển Hormuz, một tay nắm Trục kháng chiến, Iran thực sự có bản lĩnh bóp nghẹt mạng mạch của các vương gia Trung Đông.

Ba là hiệu ứng domino sau sự thỏa hiệp giữa Mỹ và Iran: Báo chí phương Tây loan tin bốn cường quốc châu Âu là Anh, Pháp, Đức, Ý đều tuyên bố chỉ cần Mỹ dỡ bỏ trừng phạt, họ cũng sẽ dỡ bỏ theo. Điều này tương đương với việc Iran tự đưa mình trở lại vị trí trung tâm của vũ đài quốc tế, thay đổi hoàn toàn tình cảnh suy giảm thực lực và bị gạt ra rìa do các lệnh trừng phạt trước đây.

Chỉ riêng ba yếu tố này đã đủ biến Iran thành một cường quốc khu vực sau một trận chiến. Tại Trung Đông, sức mạnh của Mỹ suy giảm và phạm vi ảnh hưởng của họ lại bị Iran thay thế ngay sau một cuộc xung đột quân sự; đây có lẽ là điều không ai ngờ tới.

Tất nhiên, như chúng ta đã nhấn mạnh nhiều lần, đối với một quốc gia tầm trung, việc giành được lợi ích chiến lược vượt quá quy mô chưa chắc đã là điều hoàn toàn tốt, vì sẽ tạo ra nhiều kẻ thù. Nhìn từ góc độ tương lai, nhiều quốc gia sẽ phải cân nhắc kỹ lưỡng xem nên đối xử ra sao với một Iran vừa đứng vững trước cú đấm toàn lực của Mỹ và Israel, vừa dựa vào thực lực để buộc Mỹ phải thỏa hiệp, giành giật thức ăn từ miệng cọp để trở thành cường quốc khu vực. Từ giờ trở đi, người Iran sẽ cực kỳ tự tin và có yêu cầu rất cao về lợi ích của chính mình.

Trong bối cảnh trên, các cường quốc hạt nhân khác cần phải giải quyết một cách toàn diện yêu cầu sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình của Iran, xử lý tốt mối quan hệ giữa các bên liên quan trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, đồng thời cân bằng các mối quan ngại an ninh hợp lý của các bên.

Đồng thời cũng cần chỉ ra rằng, thực tế nhiều năm qua đã chứng minh, liệu vấn đề hạt nhân Iran có được giải quyết thỏa đáng hay không sẽ liên quan trực tiếp đến uy tín và tính hiệu quả của hệ thống không phổ biến vũ khí hạt nhân quốc tế, liên quan đến sự ổn định lâu dài của khu vực Trung Đông, và liên quan đến hòa bình, ổn định của thế giới. 

4. Tác động tích cực tới Việt Nam

4.1. Ổn định giá năng lượng - yếu tố vĩ mô quan trọng nhất

Việt Nam đã chuyển từ nước xuất khẩu ròng sang nhập khẩu ròng về năng lượng từ khoảng các năm 2020-2022. Việc Iran được dỡ bỏ trừng phạt và đưa khoảng 2-3 triệu thùng/ngày trở lại thị trường dầu mỏ thế giới sẽ:

- Giảm áp lực lạm phát nhập khẩu, vốn là một trong những rủi ro lớn nhất đối với ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.

- Giảm chi phí sản xuất cho các ngành thâm dụng năng lượng (luyện kim, hóa chất, vận tải, sản xuất vật liệu xây dựng).

- Tạo dư địa cho Ngân hàng Nhà nước duy trì chính sách tiền tệ linh hoạt, hỗ trợ tăng trưởng.

Đây là yếu tố cực kỳ có lợi cho mục tiêu đạt được tỷ lệ tăng trưởng GDP hai con số.

4.2. Mở rộng không gian chiến lược và đa dạng hóa đối tác

- Iran, với dân số gần 90 triệu người và nhu cầu tái thiết khổng lồ, lại có 300 tỷ USD được Mỹ huy động giúp, sẽ trở thành một thị trường mới đầy tiềm năng cho hàng hóa, dịch vụ và đầu tư của Việt Nam: nông sản, thủy sản, dệt may, giày dép, vật liệu xây dựng, dịch vụ viễn thông, và đặc biệt là kinh nghiệm tái thiết hậu xung đột.

- Việt Nam có thể tận dụng thời điểm này để thiết lập quan hệ đối tác chiến lược thực chất với Iran, một quốc gia có vị trí địa-chính trị then chốt ở Trung Á - Trung Đông, bổ sung vào mạng lưới đối tác đa phương.

4.3. Sự suy giảm tương đối của Mỹ - cơ hội cho các nước tầm trung

Khi Mỹ buộc phải cam kết "không can thiệp nội bộ" và rút quân khỏi khu vực xung quanh Iran, điều này phát đi tín hiệu rằng sức mạnh cưỡng chế của Mỹ đang bị giới hạn bởi chính những ràng buộc nội tại (sản xuất công nghiệp suy giảm, cạn kiệt tên lửa đánh chặn, áp lực bầu cử). Hệ quả:

- Các nước đang phát triển như Việt Nam có thêm không gian tự chủ chiến lược trong việc lựa chọn đối tác, không bị ép buộc vào các lựa chọn theo phe; đây là điều rất quan trọng đối với Việt Nam.

- Xu hướng đa cực hóa tăng tốc, phù hợp với chính sách "đa phương hóa, đa dạng hóa" của Việt Nam.

4.4. Dòng vốn và thương mại toàn cầu được khôi phục

Việc châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Ý) đồng loạt dỡ bỏ trừng phạt sẽ mở ra hành lang thương mại mới qua khu vực Vịnh Ba Tư, nơi chiếm khoảng 20-25% lượng dầu mỏ giao dịch toàn cầu và một phần đáng kể khí đốt. Sự thông suốt của tuyến vận tải này có lợi cho tất cả các nền kinh tế phụ thuộc thương mại quốc tế như Việt Nam.

5. Thách thức và rủi ro

5.1. Nguy cơ Mỹ "xoay trục bù đắp" sang châu Á - Thái Bình Dương

Đây là rủi ro chiến lược lớn nhất cần theo dõi, nhất là sau kỳ bầu cử Quốc hội Mỹ tháng 11 tới. Lịch sử cho thấy khi Mỹ thất bại hoặc bị sa lầy ở một khu vực, họ thường có xu hướng tìm kiếm một "chiến thắng" khác để khôi phục uy tín. Châu Á - Thái Bình Dương, với trọng tâm là cạnh tranh với Trung Quốc, rất có thể trở thành ưu tiên mới. Việt Nam, với vị trí địa chiến lược trong chuỗi cung ứng và trong kiến trúc an ninh khu vực (ASEAN, Biển Đông), có thể phải đối mặt với:

- Áp lực lớn hơn trong việc chọn bên về các vấn đề công nghệ, bán dẫn, chuỗi cung ứng.

- Gia tăng hiện diện quân sự và ngoại giao của Mỹ tại khu vực, làm phức tạp thêm cục diện an ninh.

5.2. Rủi ro từ sự tự tin quá mức của Iran

Ở trên tôi đã nhắc lại cảnh báo: "một quốc gia tầm trung giành được lợi ích chiến lược vượt quá quy mô chưa chắc đã hoàn toàn tốt". Một Iran quá tự tin có thể:

- Đòi hỏi cao hơn trong quan hệ với các đối tác mới, bao gồm cả các nước châu Á.

- Tạo ra sự mất ổn định thứ cấp khi cố gắng mở rộng ảnh hưởng sang các quốc gia Sunni, kích hoạt phản ứng dây chuyền từ Ả Rập Xê Út, Israel và có thể cả các cường quốc bên ngoài.

- Nếu Trung Đông lại bất ổn trong tương lai, giá dầu sẽ liên biến động mạnh, điều làm Việt Nam rất dễ bị tổn thương.

5.3. Tác động đến quan hệ với các đối tác truyền thống

Việt Nam duy trì quan hệ cân bằng với cả Mỹ, châu Âu, Trung Quốc và các nước Trung Đông. Một thỏa thuận mà trong đó Mỹ bị coi là "thua cuộc" có thể:

- Khiến Washington trở nên nhạy cảm hơn với bất kỳ động thái nào của người Việt Nam mà họ coi là "ngả về phía đối thủ".

- Tạo ra những tính toán lại trong quan hệ kinh tế - thương mại song phương, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang có thặng dư thương mại lớn với Mỹ.

5.4. Bài học về "bẫy thu nhập trung bình" trong địa chính trị

Trường hợp Iran cho thấy một bài học sâu sắc: sức mạnh quân sự và vị trí địa chiến lược có thể giúp một quốc gia sống sót và thậm chí thắng thế trong xung đột, nhưng để phát triển bền vững vẫn cần năng lực công nghiệp, công nghệ và thể chế nội tại. 

Việt Nam cần rút ra kinh nghiệm: muốn trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045, không thể chỉ dựa vào lợi thế địa lý hay lao động giá rẻ, mà phải xây dựng nền tảng năng suất, đổi mới sáng tạo và tự chủ công nghiệp - đúng như hướng nghiên cứu mà anh đang theo đuổi.

6. Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Dựa trên phân tích trên, tôi đề xuất một số gợi ý chính sách chia theo hai nhóm thời gian mà anh thường quan tâm:

6.1. Ngắn hạn (2026-2028)

- Tận dụng ngay cơ hội giá dầu hạ nhiệt rất nhanh để xây dựng quỹ bình ổn, giảm thuế môi trường tạm thời, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi.

- Khởi động đàm phán thương mại song phương với Iran để khai thác 300 tỷ đô la, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, dược phẩm, vật liệu xây dựng, những ngành Iran đang cần gấp cho tái thiết.

- Theo dõi sát sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ tại vòng cung Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương để có kịch bản ứng phó phù hợp, đặc biệt trong các vấn đề công nghệ và chuỗi cung ứng.

6.2. Dài hạn (20 năm kể từ năm 2029)

- Đẩy mạnh tự chủ năng lượng: phát triển năng lượng tái tạo, điện khí LNG đa dạng hóa nguồn cung, giảm phụ thuộc vào một tuyến vận tải biển duy nhất (đặc biệt là các eo biển chiến lược như Hormuz, Malacca).

- Xây dựng "ngoại giao kinh tế đa cực" thực chất: không chỉ dựa vào một vài thị trường lớn mà mở rộng mạng lưới đối tác ở Trung Đông, Trung Á, châu Phi - những khu vực đang tái định vị sau các xung đột địa chính trị.

- Đầu tư có chiều sâu vào năng lực công nghiệp quốc phòng - an ninh năng lượng - an ninh lương thực, rút kinh nghiệm từ trường hợp Iran: một quốc gia bị bao vây nhưng vẫn đứng vững nhờ nội lực.

- Nâng cao năng lực dự báo và phân tích địa chính trị trong các cơ hoạch định chính sách, gắn phân tích kinh tế vĩ mô với phân tích rủi ro địa chiến lược - một lĩnh vực mà Việt Nam còn nhiều dư địa cải thiện.

7. Kết luận

Nhìn tổng thể, sự kiện này mang lại nhiều cơ hội hơn thách thức cho Việt Nam trong ngắn và trung hạn, đặc biệt trên phương diện ổn định kinh tế vĩ mô, đa dạng hóa đối tác và mở rộng không gian chiến lược. Tuy nhiên, về dài hạn, Việt Nam cần tỉnh táo nhận diện các rủi ro từ sự tái định vị của các nước lớn, đặc biệt là nguy cơ Mỹ "chuyển hướng trả đũa" sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Nguyên tắc ứng xử phù hợp nhất cho Việt Nam vẫn là: "dĩ bất biến, ứng vạn biến" - giữ vững độc lập tự chủ, đa phương hóa đa dạng hóa, không chọn bên nhưng bảo vệ kiên quyết lợi ích quốc gia, đồng thời tăng cường nội lực về kinh tế, công nghệ và thể chế để sẵn sàng trước mọi kịch bản.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét