Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

Từ eo biển Đài Loan nghĩ tới hòa hợp dân tộc của người Việt

Từ câu chuyện của hai bờ eo biển Đài Lian nghĩ tới hòa hợp dân tộc của người Việt
Lịch sử luôn là một tấm gương soi chiếu cho hiện tại và tương lai. Đối với người Việt Nam, cột mốc ngày 30/4/1975 đã chính thức khép lại cuộc chiến tranh, thống nhất giang sơn về một mối. Thế nhưng, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, vết thương lòng và sự đứt gãy về mặt nhận thức vẫn chưa hoàn toàn liền sẹo. 
Ảnh nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử Đài Loan Lam Bác Châu 

Một bộ phận người Việt di cư ra nước ngoài sau biến cố lịch sử, đến nay đã hình thành nên một cộng đồng kiều bào lớn mạnh với khoảng 5 - 6 triệu người. Giờ đây, dù cùng mang dòng máu đỏ da vàng, cùng tự hào về nguồn cội, nhưng thực tế đáng suy ngẫm là khoảng 108 triệu người Việt – dù ở miền Bắc, ở miền Nam hay ở hải ngoại – vẫn đang tồn tại những rào cản vô hình về lòng tin, sự hoài nghi và thiếu đi một tiếng nói chung, tình máu mủ đồng bào... để hòa giải hòa hợp, tiến tới thực sự gắn kết làm một.

Tình thế chia rẽ về mặt tâm lý xã hội và hệ tư tưởng này của người Việt có những nét tương đồng sâu sắc với mối quan hệ phức tạp giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan. Làm thế nào để các bên có thể xóa bỏ định kiến, thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc một cách thực chất để tiến tới sự thống nhất trọn vẹn cả về lãnh thổ lẫn lòng dân?

Bài diễn thuyết dưới đây của nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử Đài Loan Lam Bác Châu sẽ mang đến cho chúng ta những góc nhìn cực kỳ sâu sắc về bài toán này. Người Việt chúng ta hoàn toàn có thể tham khảo để xử lý vấn đề của chính chúng ta. 

Bằng việc bóc tách những đứt gãy trong "ký ức lịch sử chung" và hệ quả của các hệ tư tưởng đối lập, tác giả đã chỉ ra rằng: Mấu chốt của hòa hợp không nằm ở những hình thức văn hóa bề nổi, mà nằm ở việc dũng cảm nhìn nhận lại lịch sử một cách chân thực nhất. Đó cũng chính là gợi mở giá trị cho hành trình tìm kiếm sự đồng thuận và tin tưởng lẫn nhau của toàn thể người Việt Nam hôm nay.

Gần đây, tại sự kiện "Lịch sử Đài Loan tiến vào khuôn viên trường học" do Ủy ban Thành phố Thượng Hải thuộc Đồng minh Dân chủ Tự trị Đài Loan (Đài Minh) phối hợp với Học viện Chính pháp Thượng Hải tổ chức, nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử Đài Loan Lam Bác Châu đã có bài diễn thuyết. Bằng trải nghiệm cuộc đời độc đáo và cái nhìn lịch sử sâu sắc, ông đã vén bức màn sương mù này cho chúng ta.

Trong thế cờ phức tạp của quan hệ hai bờ eo biển, người dân Trung Quốc lục địa và người Trung Quốc ở Đài Loan thường bối rối trước sự thay đổi trong tâm lý xã hội. Tại sao cùng chung cội nguồn, nhưng lại ngày càng xa cách?

Trong buổi chia sẻ kéo dài hơn một tiếng đồng hồ, Lam Bác Châu xuất phát từ kinh nghiệm cá nhân khi lớn lên trong thời kỳ thiết quân luật ở Đài Loan (chú thích: Giai đoạn 1949 - 1987 thường được gọi là thời kỳ Thiết quân luật lần thứ hai; lần thiết quân luật khi xảy ra Sự kiện ngày 28 tháng 2 được coi là lần thứ nhất), nhìn lại môi trường giáo dục, sự thay đổi về nhận diện bản sắc của xã hội Đài Loan dưới cấu trúc Chiến tranh Lạnh, cũng như lịch sử của phong trào tả khuynh Đài Loan, cuộc tranh luận văn học hương thổ, phong trào bảo vệ đảo Điếu Ngư, thời kỳ Khủng bố trắng và tổ chức Đảng hoạt động bí mật. Ông cố gắng tìm kiếm cội nguồn phức tạp của "nhận diện Đài Loan", đồng thời xem xét lại giai đoạn lịch sử bị lãng quên hoặc bóp méo – giai đoạn mà người Đài Loan gắn kết chặt chẽ với cách mạng Trung Quốc.

Mâu thuẫn sâu sắc nhất của vấn đề Đài Loan ngày nay không chỉ nằm ở sự khác biệt về chế độ, mà còn ở sự biến mất của ký ức lịch sử chung sau một thời gian dài đứt gãy lịch sử.

"Không có ký ức lịch sử chung thì không thể có tình cảm lịch sử chung; không có tình cảm lịch sử chung thì không thể có sự đồng nhất và công nhận lẫn nhau thực sự."
"Thế hệ chúng tôi từ nhỏ đã lớn lên trong những tuyên truyền chống cộng"

Chủ đề của bài báo cáo hôm nay là "Nhận diện dân tộc và trách nhiệm lịch sử của thanh niên Đài Loan". Nhắc đến đề tài này, tâm trạng tôi thực sự rất nặng nề, bởi đây là một vấn đề vô cùng hệ trọng. Tôi luôn muốn mọi người hiểu được: Một người sinh vào thập niên 1960, lớn lên trong thời kỳ thiết quân luật ở Đài Loan như tôi, rốt cuộc đã trưởng thành trong một môi trường như thế nào? Chúng tôi đã tiếp nhận nền giáo dục ra sao? Tại sao người Đài Loan lại hình thành nên nhận thức như ngày hôm nay?

Tôi cho rằng cốt lõi của vấn đề hai bờ hiện nay là đồng bào hai bên thiếu đi ký ức lịch sử chung. Không có ký ức lịch sử chung thì không có tình cảm lịch sử chung; không có tình cảm lịch sử chung thì cũng sẽ không có sự nhận diện thực sự dành cho nhau.

Tôi bắt đầu học tiểu học vào năm 1968, thời kỳ đó khắp Đài Loan đâu đâu cũng như nhau. Vừa bước ra đường, trên các cột điện, bức tường, nơi nào cũng đầy các khẩu hiệu chống cộng: "Cẩn thận gián điệp cộng sản ở ngay bên cạnh bạn", "Tố giác gián điệp cộng sản là trách nhiệm của mỗi người". Trên một số cột điện lớn hơn còn có áp phích vẽ hình minh họa một người đội mũ săn chim, đeo kính râm, lén lút rình nghe trộm.

Mỗi ngày đi học, khi chưa bước vào cổng trường, chúng tôi đã nhìn thấy khẩu hiệu trên tường bao: "Chống cộng kháng Nga". Lúc đó, bất kể trường nào ở Đài Loan – từ tiểu học đến trung học phổ thông – đều giống nhau. Vào đến cổng trường, điều đầu tiên nhìn thấy là một câu nói của Tưởng Trung Chính (Tưởng Giới Thạch): "Làm một người Trung Quốc đường đường chính chính". Dù bây giờ không còn cách nói này nữa, nhưng thời đó tất cả đều như vậy. Vì thế, đối với thế hệ chúng tôi, bản sắc "người Trung Quốc" lúc bấy giờ hoàn toàn không phải là vấn đề.

Trong trường học còn có rất nhiều tranh tường. Một bức tranh tại tòa nhà hành chính mô tả cái gọi là đại lục "nước sôi lửa bỏng": những người nông dân gầy trơ xương bị áp bức, nô dịch bởi những người đội mũ ngôi sao đỏ với gương mặt hung tợn. Những hình ảnh này bạn nhìn thấy hàng ngày từ nhỏ, không cần thầy cô giải thích, tự khắc biết nó muốn truyền tải điều gì. Trong lớp học cũng vậy, phía trước treo ảnh Tôn Trung Sơn, phía sau treo ảnh Tưởng Giới Thạch, trên tường dán đầy các khẩu hiệu chống cộng. Tám giờ sáng, khi toàn trường tập hợp chào cờ, chúng tôi phải hát vang bài 《Hành khúc chống cộng》 bước ra sân trường. Sau khi chào cờ là phần huấn thị của hiệu trưởng, và kết thúc luôn luôn là câu: "Đừng quên đồng bào đại lục đang sống trong cảnh nước sôi lửa bỏng ở bờ bên kia eo biển".

Đó chính là môi trường học tập và sinh hoạt từ nhỏ của chúng tôi.

Đến năm lớp ba tiểu học, chúng tôi bắt đầu học viết văn. Thời kỳ đó Đài Loan đang đẩy mạnh "Phong trào Phục hưng Văn hóa Trung Hoa", ngày ngày học thuộc lòng Khổng - Mạnh, luyện viết chữ thảo, viết văn bát cổ. Phần kết bài văn thường phải thêm một đoạn kết luận "chống cộng yêu nước". Ví dụ, khi viết văn về Tết Trung thu, nhiều học sinh sẽ kết bài bằng câu: "Tết Trung thu năm sau, chúng ta sẽ phản công đại lục, cắm lá cờ Thanh thiên Bạch nhật Mãn địa hồng lên tường thành Nam Kinh". Ngày nay nghe lại có vẻ rất phóng đại, nhưng ở thời kỳ đó, những lời này là bài văn mẫu thông dụng không cần quy định.

Thời Tưởng Giới Thạch, toàn bộ xã hội Đài Loan bao trùm trong bầu không khí "sẽ có một ngày phản công đại lục". Sau này, cục diện quốc tế và hai bờ eo biển thay đổi lớn, Tưởng Kinh Quốc lên nắm quyền, Đài Loan bắt đầu thúc đẩy Mười công trình xây dựng lớn. Nhìn lại ngày hôm nay, đó có thể coi là di sản chính trị quan trọng mà Tưởng Kinh Quốc để lại.

Do đó, khi xem bộ phim "Thời thơ ấu" (A Time to Live, a Time to Die) của Hầu Hiếu Hiền, bạn sẽ thấy những gia đình từ đại lục di cư sang Đài Loan hầu như không mua sắm đồ nội thất dùng lâu dài; không phải vì không có tiền mua, mà vì nhiều người luôn nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ trở về đại lục.

Điểm này thực ra rất quan trọng.

Bởi vì đối với thế hệ chúng tôi, bản sắc "người Trung Quốc" lúc đó không phải là vấn đề. Vấn đề thực sự chưa bao giờ là "có phải người Trung Quốc hay không", mà là người dân Đài Loan nhìn nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc như thế nào.

Từ phong trào bảo vệ đảo Điếu Ngư đến văn học hương thổ: Xã hội Đài Loan bắt đầu thay đổi

Sau thập niên 1970, cục diện quốc tế có những thay đổi lớn, đặc biệt là sau khi cái gọi là "Trung Hoa Dân Quốc" rút khỏi Liên Hợp Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giành lại "quyền đại diện của Trung Quốc", nội bộ Đài Loan cũng bắt đầu xuất hiện một loạt thay đổi. Cấu trúc xã hội vốn ổn định lâu dài dưới thời Chiến tranh Lạnh bắt đầu lung lay.

Một trong những thay đổi sớm nhất bắt đầu từ phong trào bảo vệ đảo Điếu Ngư ở hải ngoại. (Chú thích: Đầu thập niên 1970, Mỹ đơn phương quyết định trao quyền hành chính quần đảo Ryukyu cho Nhật Bản, bao gồm cả đảo Điếu Ngư và các đảo phụ cận vốn là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc. Hành động này đã gây ra sự phẫn nộ mạnh mẽ trong cộng đồng người Hoa toàn cầu. Cuối năm 1970 đến đầu năm 1971, du học sinh Đài Loan và Hồng Kông tại các trường đại học lớn ở Mỹ đã tiên phong phát động kháng nghị, thành lập "Ủy ban Hành động Bảo vệ Điếu Ngư Đài". Phong trào này đã tạo ra sự hưởng ứng và hành động to lớn tại Trung Quốc đại lục, Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao).

Trong phong trào bảo vệ đảo Điếu Ngư ở hải ngoại, có không ít người là con em các quan chức cấp cao của Quốc Dân Đảng. Sau khi sang Mỹ du học, họ tiếp xúc với những phần lịch sử mà trước đây ở Đài Loan không thể tiếp cận, và nhận thức lại về hai chữ "yêu nước". Những người như Mã Anh Cửu lúc đó đều chịu ảnh hưởng của làn sóng tư tưởng này, chỉ có điều họ chọn hướng "chống cộng yêu nước", sau khi trở về Đài Loan lại phát triển thành một lộ trình chính trị khác.

Trong khi đó, một số người tiến bộ hơn sau này đã phát triển phong trào thành xu hướng "trở về với Tổ quốc". Ví dụ như nhóm của Ngô Quốc Trinh, những người xuất thân từ Đại học Thanh Hoa Tân Trúc (Đài Loan), họ là thế hệ đầu tiên trở về với Tổ quốc. Sau đó, phong trào bảo vệ đảo Điếu Ngư tiếp tục ảnh hưởng đến giới văn hóa Đài Loan, dần dần hình thành một trào lưu tư tưởng văn hóa tiến bộ, một biểu hiện quan trọng là sự phê phán đối với "thơ hiện đại" Đài Loan.

Thơ hiện đại thịnh hành ở Đài Loan sau thập niên 1950 thường rất siêu thực, tối nghĩa, người ta đọc vào không tài nào hiểu nổi. Thậm chí đến thời thế hệ chúng tôi học đại học vẫn như vậy. Nhiều người chưa từng đọc bao nhiêu tác phẩm văn học nhưng ai ai cũng làm thơ, đặc biệt là khi theo đuổi con gái, họ thích viết kiểu thơ mà ngay cả chính họ cũng không hiểu nổi.

Sau cuộc "phê phán thơ hiện đại", giới văn nghệ Đài Loan dần chuyển từ những biểu đạt trống rỗng, trừu tượng sang chủ nghĩa hiện thực, bắt đầu thực sự quan sát xã hội và chú trọng hiện thực.

Tiếp đó, vào khoảng năm 1976 xuất hiện "Cuộc tranh luận văn học hương thổ". Cuộc tranh luận này đã giúp giới tư tưởng và văn học Đài Loan kết nối lại với truyền thống chủ nghĩa hiện thực vốn bị kìm kẹp, cấm đoán suốt một thời gian dài sau thập niên 1950.

Cộng thêm sức ảnh hưởng từ các trào lưu tư tưởng ở đại lục lúc bấy giờ, sinh viên đại học Đài Loan, dưới tác động của tạp chí "Hạ Triều" và các tác phẩm của Trần Ánh Chân, đã tận dụng các kỳ nghỉ đông và hè để "lên núi xuống làng", phục vụ nông dân, người dân tộc thiểu số, ngư dân... Đó là bầu không khí phong trào xã hội mang màu sắc lý tưởng và tiến bộ của Đài Loan lúc bấy giờ.

Đồng thời, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hướng về xuất khẩu của Đài Loan, lực lượng chính trị "Đảng ngoại" (ngoài Quốc Dân Đảng) cũng bắt đầu trỗi dậy.

Từ năm 1976 đến 1979, phong trào phản kháng ở Đài Loan ban đầu vẫn do các nhóm chủ trương thống nhất, quan tâm đến tầng lớp dưới đáy và mang màu sắc xã hội chủ nghĩa dẫn dắt, tức là cái gọi là "Hệ thống Hạ Triều" hay "Phái tả thống nhất".

Nhưng sau năm 1979, cục diện bắt đầu thay đổi. Một mặt, chính sách đối với Đài Loan của Trung Hoa đại lục có sự điều chỉnh, đưa ra mong muốn cải thiện quan hệ với chính quyền Quốc Dân Đảng và phía Tưởng Kinh Quốc; đồng thời "gửi gắm hy vọng vào nhân dân Đài Loan". Mặt khác, quan hệ Trung - Mỹ có bước ngoặt lớn, chính sách đối với Đài Loan của Mỹ cũng điều chỉnh theo.

Trong bối cảnh cục diện quốc tế lớn và môi trường hai bờ nhỏ như vậy, những yêu sách trước đây không ai dám công khai như "dân tộc tự quyết", "Đài Loan tự quyết" bắt đầu len lỏi vào xã hội Đài Loan và dần biến tướng thành một yêu sách chính trị mới.

Đến cuối năm 1979, "Sự kiện Cao Hùng" (Sự kiện Formosa) nổ ra, chính quyền Quốc Dân Đảng tiến hành đàn áp. (Chú thích: Xung đột lớn giữa cảnh sát và người dân xảy ra vào ngày 10/12/1979 (Ngày Quốc tế Nhân quyền) tại thành phố Cao Hùng, Đài Loan. Sự kiện do các thành viên tạp chí Formosa dẫn dắt, yêu cầu bãi bỏ thiết quân luật, mở bỏ lệnh cấm lập đảng và đòi dân chủ. Sau sự kiện, chính quyền Đài Loan mở cuộc lùng bắt quy mô lớn, bắt giữ hơn 150 người ngoài đảng. 8 nhà lãnh đạo cốt lõi gồm Hoàng Tín Giới, Thi Minh Đức, Lâm Hoằng Tuyên, Lâm Nghĩa Hùng, Diêu Gia Văn, Lữ Tú Liên, Trương Tuấn Hoành và Trần Cúc bị đưa ra tòa án quân sự xét xử với các tội danh nghiêm trọng như "vừa phản loạn". Dưới áp lực của Mỹ, cuối cùng không ai bị tuyên án tử hình, trong đó Thi Minh Đức bị án tù chung thân, những người còn lại bị phạt tù từ 12 đến 14 năm).

Từ thập niên 1950 trở đi, tất cả các vụ án chính trị ở Đài Loan đều được xét xử bí mật. Nhưng "Sự kiện Cao Hùng" dưới áp lực của Mỹ, lần đầu tiên áp dụng hình thức "xét xử công khai". Chính vì vậy, những nhân vật bị bắt trong sự kiện này đã kế thừa "di sản chính trị" của cái gọi là "nỗi bi thương của người Đài Loan" từ năm 1895, tích lũy được nguồn vốn chính trị to lớn để ra tranh cử sau này.

Cùng lúc đó, sự phân hóa đường lối trong nội bộ phong trào phản kháng Đài Loan ngày càng lộ rõ. Đường lối của phái tả thống nhất vốn mang tính "nhận diện Trung Quốc" nhiều hơn dần mất đi vị thế chủ đạo; trong khi đường lối nhấn mạnh cái gọi là "bản địa Đài Loan" dần trở thành dòng tư tưởng chính. Sự thay đổi này không diễn ra trong một sớm một chiều, mà trải qua một quá trình diễn tiến lâu dài. Nhân tố thực sự đóng vai trò then chốt sau này chính là sự chuyển hướng toàn bộ đường lối dưới thời Lý Đăng Huy.

Thế hệ chúng tôi trưởng thành trong quá trình xã hội Đài Loan không ngừng biến động. Tôi bắt đầu đọc tạp chí "Hạ Triều" từ thời trung học. Sau này cũng giống như một số ít thanh niên "tiến bộ" cùng thời, tôi được khai sáng tư tưởng từ cuộc tranh luận văn học hương thổ. Đặc biệt, các tác phẩm và tiểu luận của ông Trần Ánh Chân có ảnh hưởng vô cùng lớn đến thế hệ chúng tôi.

Tôi cứ ngỡ mình đang không ngừng "tiến bộ", nhưng càng lớn tuổi tôi lại càng thấy mình cô độc. Những người thế hệ chúng tôi vốn cùng đi chung một con đường, cuối cùng không phải càng đi càng gần nhau, mà là càng đi càng xa. Tôi dần trở thành một người cô độc. Nhiều người thuận theo dòng chảy thay màu đổi sắc của thời đại mà bước sang phía bên kia, thậm chí bước vào bộ máy chính quyền, ngồi nơi "đền miếu cao sang". Có nhiều người hơn nữa, năm xưa khi chúng tôi phê phán Quốc Dân Đảng, họ là những người "yêu nước" điển hình dưới nền giáo dục "đảng quốc chống cộng yêu nước", nhưng ngày nay họ đều trở thành những nhân vật cốt cán của phe "xanh" (Dân Tiến Đảng), hoặc những người mang danh "yêu Đài Loan".

"Người Đài Loan" rốt cuộc là ai?

Tôi sinh năm 1960, là một người Khách Gia (Hakka) ở huyện Miêu Lật. Đây là một trong số ít nơi ở Đài Loan lấy người Khách Gia làm chủ thể. Vì thế lực của đảng Dân Tiến từ lâu đã rất khó trở thành dòng chính ở huyện này, nên ngày nay trên mạng xã hội Đài Loan, nơi này thường bị chế giễu gọi là "Quốc gia Miêu Lật".

Ở quê nhà, từ nhỏ đến lớn tôi hầu như chưa từng nghe đến cách nói "người Đài Loan" hay "tiếng Đài Loan". Cơ cấu xã hội của huyện chúng tôi chỉ phân chia thành vài loại danh tính: Chủ thể là những người nói tiếng Khách Gia – "người Khách Gia" (chú thích: Người Khách Gia Đài Loan thường chỉ những người có tổ tiên vượt biển đến Đài Loan vào cuối thời Minh đầu thời Thanh từ Quảng Đông (như Mai Huyện, Huệ Châu) và Phúc Kiến (như Đinh Châu), tập trung chủ yếu ở Tân Trúc, Miêu Lật, Hoa Liên, Bình Đông, Đào Viên...); vùng ven biển có vài thị trấn nói tiếng Phúc Lão là "người Phúc Lão" (người Mẫn Nam); những "người ngoại tỉnh" sống trong các thôn quyến thuộc đi theo Quốc Dân Đảng đến Đài Loan năm 1949; và thỉnh thoảng có những người thuộc tộc Atayal (Thái Nhã) từ trên núi sâu đi xuống với những hình xăm trên mặt, mà chúng tôi gọi là "Phan tử" (người bản địa). Vì chúng tôi là đa số nên thường hay trêu chọc những nhóm thiểu số tương đối. Chẳng hạn, những người bạn học nói tiếng Phúc Lão bản địa, giọng nói quốc ngữ (tiếng phổ thông) của họ không giống chúng tôi, và chất giọng đó trở thành trò đùa của chúng tôi.

Tuy nhiên, năm 1979 khi tôi lên Đài Bắc học đại học, vừa vào phòng ký túc xá, khi giới thiệu bản thân và trò chuyện với người bạn cùng phòng đến từ miền Nam, tôi liên tục nghe cậu ấy nhắc đến từ "người Đài Loan", "tiếng Đài Loan". Mà cái gọi là "người Đài Loan", "tiếng Đài Loan" trong lời cậu ấy không bao gồm người Khách Gia và tiếng Khách Gia chúng tôi, thực chất chính là "người Phúc Lão" và "tiếng Phúc Lão" ở quê tôi. Dù cậu ấy không có ác ý mang tính "sô-vẫn Phúc Lão đại tộc", nhưng tôi vẫn nhạy cảm nhận ra đằng sau đó dường như có một danh tính mang tính chính trị được chỉ định bởi một cấu trúc lịch sử sâu sắc hơn mà tôi chưa từng trải qua.

Sau này khi tôi đến Cao Hùng giúp tranh cử cho các ứng cử viên ngoài đảng, vì có việc nên tôi gọi điện về văn phòng Tổng bộ Liên minh Tranh cử tại Đài Bắc để hỏi. Người nghe máy là một nhân viên thuộc phái độc lập xuất thân từ tù nhân chính trị. Nghe tôi nói bằng tiếng phổ thông, ông ta lập tức dùng giọng tiếng Phúc Lão (tiếng Mẫn Nam) vô cùng nghiêm khắc trách mắng tôi: "Cậu ăn gạo Đài Loan, uống nước Đài Loan mà lớn lên, sao lại không biết nói tiếng Đài Loan?". Tôi không khách khí, lập tức đáp trả ông ta một câu chửi thề bằng chính tiếng Mẫn Nam. Đó là "chủ nghĩa phát-xít Đài độc" mà tôi đã phải đối mặt ngay từ năm 1986. Trong bầu không khí chính trị như vậy, những khẩu hiệu như "hét lớn yêu Đài Loan" chính là cái gọi là chính trị đúng đắn của dòng chính phong trào phản kháng thời bấy giờ.

Vì tham gia vào "Phong trào Dân chủ ngoài đảng" chống lại Quốc Dân Đảng, tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn vấn đề nhận diện bản sắc này, từ đó bắt đầu quay đầu nhìn lại để suy ngẫm: Người Khách Gia chúng tôi rốt cuộc là gì? Người Đài Loan rốt cuộc là gì? Tôi nghĩ rằng nếu mình là một người Đài Loan yêu Đài Loan, thì nên thực sự hiểu về Đài Loan. Vì vậy, tôi bắt đầu nghiêm túc đọc lịch sử Đài Loan.

Năm 1986, trong thời gian tham gia sáng lập tạp chí phong trào sinh viên "Phương Nam", tôi cảm nhận mạnh mẽ sự thay đổi của tình hình xung quanh. Cái gọi là "Sử quan người Đài Loan" đã trở thành luận thuyết dòng chính của phong trào phản kháng. Tôi bắt đầu đọc lịch sử Đài Loan. Trong thời gian đó, tôi cũng đọc bản photocopy cuốn "Lịch sử 400 năm của người Đài Loan" do Sử Minh viết nhưng chưa được xuất bản công khai – cuốn sách sau này được nhiều người tôn sùng là "Kinh Thánh" của phái tả Đài độc. Thời bấy giờ trong vòng tròn của chúng tôi, chỉ có rất ít người có thể và tìm đọc loại sách cấm này. Nhưng thành thật mà nói, khi đọc cuốn sách đó, tôi chỉ thấy nó vừa dông dài vừa chắp vá giống như một sản phẩm của "kéo và hồ dán". Đọc xong đầu óc lại càng thêm hỗn loạn.

Sau đó, tôi đọc một cuốn sách cấm khác in lậu lúc bấy giờ mang tên "Đài Loan phẫn nộ", do một tiền bối cựu Đảng viên Đảng Cộng sản Đài Loan là Tô Tân (1907-1981) viết và xuất bản tại Hồng Kông năm 1949. Tô Tân là tiền bối sáng lập Đài Minh, cũng là một đảng viên Cộng sản Đài Loan kỳ cựu. Cuốn sách này viết từ thời Hà Lan thực dân Đài Loan cho đến tận năm 1949. Đọc xong cuốn sách này, tôi lập tức hiểu ra: Tôi không thể là kẻ "Đài độc"; và tôi cũng biết con đường "Đài độc" hoàn toàn không thể đi thông. Đó là bài học lớn nhất mà cuốn "Đài Loan phẫn nộ" mang lại cho tôi. Khác với cuốn lịch sử 400 năm càng đọc càng hồ đồ của Sử Minh, cuốn sách của Tô Tân giảng giải lịch sử Đài Loan vô cùng rõ ràng.

"Ý thức Tổ quốc" và "Ý thức đứa con bị bỏ rơi" dưới thời Nhật Bản thực dân

Từ cuốn "Đài Loan phẫn nộ", tôi thực sự bước vào việc học tập lịch sử Đài Loan, bắt đầu cố gắng lý giải vấn đề bản sắc của chính mình.

Thập niên 1970, tạp chí "Hạ Triều" lần đầu tiên khai quật lại lịch sử kháng chiến và các tác phẩm văn học mới thời kỳ Nhật thuộc vốn bị xóa nhòa, từ đó ảnh hưởng sâu sắc đến hướng quan tâm của giới văn học và sử học Đài Loan. Do đó, đến thập niên 1980, cuốn tiểu thuyết "Đứa con cô đơn của châu Á" (Asia's Orphan) của Ngô Trọc Lưu (1900-1976) đã được coi trọng trở lại vì phái "Đài độc" dùng nó làm bài viết để xây dựng nhận diện bản sắc người Đài Loan. Cuốn sách này sau này trở thành một văn bản vô cùng quan trọng trong các cuộc tranh luận thống - độc.

La Đại Hữu từng viết một bài hát tên là "Đứa con cô đơn của châu Á. La Đại Hữu là ký ức chung của thế hệ chúng tôi, khi còn trẻ chúng tôi đi hát karaoke hầu như đều hát nhạc của ông. Tại sao ngay cả ca khúc đại chúng cũng hát về "đứa con cô đơn của châu Á"? Bởi vì vào thập niên 1980, trong đảo Đài Loan có một luồng tư tưởng quan trọng, chính là mượn hình ảnh này để nhào nặn nên lịch sử quan của người Đài Loan. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: "Sử quan đứa con cô đơn" này có thực sự là ý đồ sáng tác ban đầu của Ngô Trọc Lưu hay không?

Sau khi nghiên cứu lại, tôi phát hiện ra không phải vậy. Ngô Trọc Lưu viết tác phẩm này vào giai đoạn cuối thời kỳ thống trị thực dân của Nhật Bản, khi "Phong trào Hoàng dân hóa" diễn ra nghiêm trọng nhất, đối mặt với cuộc khủng hoảng nhận diện dân tộc của người Đài Loan mà mạo hiểm viết nên. Tư tưởng chủ đạo mà ông thực sự muốn biểu đạt là: Người Đài Loan chỉ có trở về Tổ quốc tham gia kháng chiến mới có được sự giải phóng.

Tiểu thuyết khởi thảo năm 1943 của Ngô Trọc Lưu được viết bằng tiếng Nhật, ban đầu không gọi là "Đứa con cô đơn của châu Á", tựa đề ban đầu là "Hồ Chí Minh". Tại sao lại gọi là "Hồ Chí Minh"? Bởi vì cái tên này (Người dịch chú thích: Nhân vật hư cấu trong truyện, không phải Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam) bản thân nó tượng trưng cho nhận diện dân tộc của người Đài Loan dưới ách thống trị thực dân. Đặc biệt Ngô Trọc Lưu với tư cách là một nhà văn Khách Gia, ý thức dân tộc của ông vô cùng mạnh mẽ. Cái tên "Hồ Chí Minh" mang ý nghĩa "khẳng định mình là người Hán, người Trung Quốc". Ở ông không hề tồn tại sự hoang mang về nhận diện bản sắc, mà ông muốn thông qua cuộc đời của nhân vật để vạch trần tất cả những cặn bã lắng đọng dưới tầng nước trong của xã hội Đài Loan dưới sự thống trị của Nhật Bản. Chỉ đến năm 1956 khi xuất bản tại Nhật Bản, vì tên sách trùng với tên của Chủ tịch, Tổng bí thư Đảng Lao động Việt Nam lúc bấy giờ, nên buộc phải đổi tên nhân vật chính thành "Hồ Thái Minh" và đổi tên sách thành "Đứa con cô đơn của châu Á" để thể hiện số phận lịch sử của người Đài Loan.

Sau này khi nghiên cứu lịch sử Đài Loan, đặc biệt là xem lịch sử chống Nhật của Đài Loan sau Hiệp ước Mã Quan năm 1895, tôi mới thực sự hiểu được: Sau khi Đài Loan bị nhượng cho Nhật Bản vào năm 1895, người Hán ở Đài Loan lần đầu tiên thực sự đối diện với vấn đề "nhận diện bản sắc". Trước đó, mọi người chỉ là thần dân nhà Thanh, không đặc biệt suy nghĩ về danh tính "người Trung Quốc". Nhưng sau khi sự thống trị thực dân của Nhật bắt đầu, người Hán Đài Loan bắt đầu nảy sinh một thứ "ý thức Tổ quốc" mới. Triều Tiên sau khi bị Nhật Bản thôn tính hoàn toàn đã mất đi Tổ quốc, còn Đài Loan thì khác, Đài Loan vẫn còn Tổ quốc ở bờ bên kia eo biển; dù Tổ quốc này "không tranh khí" (không làm nên trò trống gì) khi đem nhượng Đài Loan đi, nhưng người Đài Loan ngược lại vì thế mà nảy sinh ý thức Tổ quốc mạnh mẽ.

Đồng thời, cũng nảy sinh một thứ ý thức khác – "ý thức đứa con bị bỏ rơi", nghĩa là tâm lý oán hận "chúng ta bị Tổ quốc bỏ rơi". Điều này giúp tôi dần hiểu ra rằng, nhận diện bản sắc của người Hán Đài Loan thực chất đã dao động lâu dài giữa "ý thức Tổ quốc" và "ý thức đứa con bị bỏ rơi".

Nhìn xa hơn vào toàn bộ lịch sử Đài Loan, sẽ phát hiện ra một vấn đề rất quan trọng. Từ năm 1895 đến năm 1945, Nhật Bản cai trị thực dân Đài Loan tròn 50 năm. Nhưng trong 50 năm này, "ý thức Tổ quốc" luôn là giai điệu chính trong nhận diện bản sắc của người Hán Đài Loan.

Dù là cuộc kháng chiến vũ trang chống Nhật từ năm 1895 đến 1915, hay phong trào kháng chiến văn hóa sau thập niên 1920, cho đến việc nhiều thanh niên Đài Loan trở về Tổ quốc tham gia kháng chiến sau năm 1937, toàn bộ mạch lịch sử này đều chứng minh một điều: Người Đài Loan về tổng thể luôn tự coi mình là người Trung Quốc. Ngoại trừ một số cực kỳ ít tên hán gian, hiếm có ai phủ nhận danh tính người Trung Quốc của mình.

Lỗ Tấn từng nói chuyện với các nhà văn thanh niên Đài Loan vào năm 1925 rằng: "Hiện tại Tổ quốc không có năng lực giúp đỡ các bạn, chỉ có thể dựa vào chính các bạn". Cho nên Đảng Cộng sản Đài Loan năm 1928 từng chủ trương "độc lập", nhưng đó không phải là "độc lập khỏi Trung Quốc", mà là "thoát khỏi sự thống trị thực dân của Nhật Bản".

Sử quan của phái "Đài độc" cố tình xuyên tạc "Đài Loan Dân chủ Quốc" năm 1895 thành "Đài độc", nhưng vấn đề thực sự là, cái gọi là "độc lập" lúc đó là nhằm vào sự thống trị thực dân của Nhật Bản, chứ không phải là thoát khỏi Trung Quốc. Vì vậy, niên hiệu của "Đài Loan Dân chủ Quốc" vẫn dùng hai chữ "Vĩnh Thanh" (mãi mãi hướng về nhà Thanh), họ luôn coi mình là một phần của Trung Quốc, hy vọng triều đình trung ương có thể xử lý vấn đề Đài Loan. Đó đều là sự thật lịch sử.

Đến sau thập niên 1980, nhiều khái niệm và sự thật lịch sử bị sử quan của phái "Đài độc" cố tình đóng gói, đánh tráo khái niệm. Những chủ trương vốn thuộc về truyền thống yêu nước của đồng bào Đài Loan đã bị bóp méo, giải thích thành tính chính đáng lịch sử của "Đài độc". Người bình thường nếu không hiểu lịch sử sẽ rất dễ bị dắt mũi bởi lối tự sự này.

Sau năm 1895, nhận diện bản sắc của người Đài Loan thực sự có những thay đổi mới, nhưng cốt lõi nhất trong đó vẫn là "ý thức Tổ quốc".

Tất nhiên, trong đó cũng có những biến đổi. Trước Cách mạng Tân Hợi, nhận diện của người Đài Loan phần nhiều là "nhận diện nhà Thanh"; ví dụ, chí sĩ kháng Nhật Giản Đại Sư (1870-1900) trước khi hy sinh đã tuyên bố: "Sinh làm người nhà Thanh, chết làm ma nhà Thanh". Dùng lời ngày nay mà nói chính là "sống làm người Trung Quốc, chết làm ma Trung Quốc".

Nhưng sau khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập vào năm 1912, nhà Thanh diệt vong, người Đài Loan lại đối mặt với vấn đề mới: Nhà Thanh không còn nữa, vậy chúng ta là ai? Một số người để duy trì nhận diện dân tộc thậm chí kiên quyết không cắt bím tóc. Những chí sĩ kháng Nhật như Hồng Khí Sinh (1866-1928), dưới sự thống trị thực dân của Nhật, sau khi kháng chiến vũ trang thất bại, vẫn thông qua việc giữ lại bím tóc để thể hiện danh tính dân tộc của mình: "Tôi không phải là người Nhật". Đến năm 1915, Dư Thanh Phương, nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến vũ trang quy mô lớn cuối cùng trong đảo Đài Loan, đã dùng danh nghĩa "Đại Minh Từ Bi Quốc Nguyên Soái" để kêu gọi người dân.

Bao gồm cả bản thân Ngô Trọc Lưu, ông luôn nhấn mạnh nhận diện dân tộc Hán của mình. Vào những năm 1944, 1945 đen tối nhất của "Phong trào Hoàng dân hóa" dưới ách thống trị của Nhật, ông mới viết ra cuốn tiểu thuyết "Hồ Chí Minh" đó. Ông thực chất là đang bày tỏ danh tính của người Đài Loan, hỏi rằng tại sao bạn không bày tỏ mình là hậu duệ của nhà Minh.

Những gì viết trong tiểu thuyết chính là trải nghiệm từ nhỏ đến lớn của chính ông: từ giáo dục tư thục (học chữ Hán) cho đến khi vào trường công học, trường sư phạm của Nhật, liên tục gặp phải sự kỳ thị thực dân. Ông dần nhận ra người Nhật luôn coi người Đài Loan là "công dân hạng hai". Nhưng điều phức tạp hơn là, khi ông trở về Nam Kinh sau đó, ông lại gặp phải một sự bối rối khác: Nam Kinh lúc đó thuộc thời kỳ chính quyền Uông Tinh Vệ, kết quả là đồng bào Tổ quốc lại coi người Đài Loan là "người Nhật". Vậy thì người Đài Loan rốt cuộc là ai? Ngày nay nhiều người tưởng đây là vấn đề mới xuất hiện ở thời hiện đại, thực ra vấn đề đã có từ lâu. Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan, các trí thức Đài Loan đã bắt đầu phải đối mặt với vấn đề này.

Bao gồm cả câu nói "Đài Loan là của người Đài Loan" được nhiều người trích dẫn sau này, vào thời đó hoàn toàn không mang hàm ý bị bóp méo như ngày nay. Thời kỳ đó, các trí thức Đài Loan nói câu này chủ yếu là nhằm vào sự thống trị thực dân của Nhật, ngụ ý ban đầu của nó hoàn toàn không phải là muốn xây dựng một "quốc gia dân tộc Đài Loan" tách rời khỏi Trung Quốc. Nhưng vấn đề ngày nay là, nhiều người đã rút rỗng toàn bộ ngữ cảnh lịch sử này, chỉ giữ lại một câu trên mặt chữ để phục vụ cho luận điệu "khử Trung Quốc hóa" (xóa bỏ yếu tố Trung Quốc).

Ngô Trọc Lưu viết "Đứa con cô đơn của châu Á" thực chất là muốn xử lý vấn đề này. Thực ra trong phần kết của phiên bản tiểu thuyết sớm nhất, không phải là "nỗi bi thương của người Đài Loan" như nhiều người hiểu hiện nay, đoạn kết viết là: Có người nửa đêm lén lút nghe đài phát thanh, nghe thấy Hồ Chí Minh ở Côn Minh phát thanh gửi đồng bào Đài Loan, cổ vũ đồng bào Đài Loan trở về Tổ quốc tham gia kháng chiến.

Đoạn kết này phù hợp với sự thật lịch sử.

Từ năm 1895 đến năm 1945, người Đài Loan bị thống trị thực dân 50 năm, cuối cùng niềm hy vọng thực sự để thoát khỏi sự thống trị thực dân của Nhật chính là trở về Tổ quốc tham gia kháng chiến.

Đặc biệt là sau năm 1937, cùng với sự hợp tác Quốc - Cộng, Mặt trận thống nhất dân tộc kháng Nhật được thành lập, rất nhiều thanh niên Đài Loan đã trở về đại lục tham gia kháng chiến. Theo thống kê chưa đầy đủ, vào khoảng thời gian kháng chiến thắng lợi, có khoảng 5 vạn thanh niên Đài Loan trở về Tổ quốc tham gia chống Nhật. Do đó, chủ đề mà tiểu thuyết của Ngô Trọc Lưu thực sự muốn biểu đạt hoàn toàn nhất quán với đoạn kinh nghiệm lịch sử này.

Vậy câu hỏi đặt ra là, tại sao sau này "đứa con cô đơn của châu Á" lại bị giải thích lại thành "ý thức cô đơn của người Đài Loan"?

Bởi vì đến năm 1979, sau thập niên 1980, một số luận thuyết văn học và lịch sử mới ở Đài Loan bắt đầu cố tình nhấn mạnh cảm xúc "bi thương", "cô đơn". Họ đặc biệt nhấn mạnh tình tiết nhân vật chính trong tiểu thuyết cuối cùng bị "phát điên", nói rằng người Đài Loan trong mắt người Nhật không phải người Nhật, trong mắt người Trung Quốc cũng không phải người Trung Quốc, cho nên người Đài Loan chỉ có thể quay về với "tính chủ thể Đài Loan". Nhưng cách giải thích này chỉ chộp lấy "ý thức đứa con bị bỏ rơi" trong kinh nghiệm lịch sử, mà cố tình lờ đi "ý thức Tổ quốc" cốt lõi hơn. Vấn đề nằm ở chính chỗ đó. Sau năm 1895, người Đài Loan thực sự đồng thời xuất hiện hai thứ tình cảm là "ý thức Tổ quốc" và "ý thức đứa con bị bỏ rơi", nhưng cho đến trước năm 1945, tình cảm mang tính chủ đạo vẫn là sự nhận diện Tổ quốc.

Sau sự kiện "228": Tại sao nhiều thanh niên Đài Loan lại đi theo Đảng Cộng sản?

Năm 1945 khi Đài Loan được quang phục, đại bộ phận người dân Đài Loan là thực tâm hoan nghênh Tổ quốc trở lại tiếp quản, cho nên mới xuất hiện cảnh tượng "mang giỏ cơm, bầu nước đón vương sư". Tuy nhiên, sự hủ bại của Quốc Dân Đảng ở Đài Loan, Sự kiện ngày 28 tháng 2 (Sự kiện 228) cùng với thời kỳ Khủng bố trắng đã khiến nhiều người Đài Loan bắt đầu thất vọng về "Tổ quốc".

Thế nhưng, sự phát triển của lịch sử không đơn giản như những gì sử quan Đài độc mô tả. Bởi vì rất nhiều thanh niên Đài Loan không vì thế mà phủ nhận nhận diện Trung Quốc. Ngược lại, họ dần chuyển sang một sự nhận diện khác – nhận diện "Trung Quốc đỏ", tức là dấn thân vào phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo.

Sau khi điều tra nghiên cứu về đoạn lịch sử này, tôi mới nhận thức được rằng, Sự kiện 228 yêu cầu dân chủ và tự trị, chứ không phải là "điểm khởi đầu của Đài độc" như sử quan Đài độc nói; nếu là như vậy, thì làm sao giải thích được việc vào thập niên 1950 lại có nhiều thanh niên Đài Loan dấn thân vào tổ chức bí mật của Đảng Cộng sản đến thế?

Trần Minh Trung, Lâm Thư Dương, cùng với một lượng lớn thanh niên Đài Loan bị xử bắn tại bãi ngựa (Mã Trường Đinh), trong đó có rất nhiều người là thanh niên bản địa Đài Loan. Họ thực chất đã dùng thực tiễn của chính mình để đưa ra câu trả lời cho vấn đề này. Theo họ, vấn đề của Đài Loan không thể cô lập giải quyết chỉ trong nội bộ Đài Loan, mà bắt buộc phải kết hợp với toàn bộ cuộc cách mạng Trung Quốc.

Do đó, sau năm 1947, nhiều thanh niên Đài Loan đã gia nhập tổ chức bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc, hy vọng thông qua việc tham gia vào toàn bộ cuộc cách mạng Trung Quốc để thay đổi số phận của Đài Loan. Đó mới là lịch sử thực sự đằng sau cuốn "Vinh quang thầm lặng".

Nhưng sau năm 1950, đoạn lịch sử này ở Đài Loan trong một thời gian dài không được phép nói công khai. Nhiều con cái của các liệt sĩ đảng hoạt động bí mật thậm chí còn không biết cha anh mình thực sự đã tham gia hoạt động gì, bởi vì đó là chuyện sẽ bị mất đầu. Họ chỉ biết "người thân bị Quốc Dân Đảng giết", chứ không biết tại sao bị giết. Đồng thời, họ lại lớn lên trong hệ thống giáo dục chống cộng của Quốc Dân Đảng, dần dần, họ thậm chí đứng vào lập trường đối lập với những gì cha anh họ từng phản kháng. Tôi luôn cảm thấy đây là một trong những bi kịch lớn nhất của lịch sử Đài Loan.

Chính vì thế, tôi ngày càng nhận thức rõ ràng rằng, vấn đề thực sự của sự dung hợp hai bờ eo biển không chỉ đơn thuần là sự nhận diện văn hóa Trung Hoa của người Đài Loan, mà là vấn đề quan hệ giữa người Đài Loan và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Thế hệ chúng tôi từ nhỏ đã tiếp nhận nền giáo dục chống cộng ở mức độ cao, nhưng ngay cả như vậy, chúng tôi không hề nghi ngờ mình là người Trung Quốc. Ngược lại, thế hệ chúng tôi đều có một "lòng Trung Quốc", "tình Trung Quốc" rất sâu đậm, hồi nhỏ ngày ngày xem bản đồ, xem Trường Giang, Hoàng Hà, xem "giang sơn tráng lệ", nguyện vọng lớn nhất của nhiều người là có một ngày được trở về đại lục xem thử.

Điểm này vô cùng quan trọng. Vấn đề chưa bao giờ là có hay không có "nhận diện Trung Quốc", mà là xã hội Đài Loan nhìn nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc như thế nào.
Cấu trúc Chiến tranh Lạnh và "Khử Trung Quốc hóa"

Sau khi hai bờ mở cửa qua lại, một số người vốn lớn lên dưới nền giáo dục đảng quốc, sau khi thực sự đến đại lục xem thử, lúc riêng tư cũng nói "Đảng Cộng sản thực ra làm rất tốt", nhưng vì hệ tư tưởng chống cộng hình thành lâu đời ở Đài Loan quá sâu sắc, họ vẫn không thể đồng nhất và công nhận một Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Tôi luôn cho rằng, từ năm 1895 cho đến trước khi hình thành "Nhận thức chung năm 1992" của hai hội (Hội Eo biển Đại lục và Quỹ Eo biển Đài Loan), về mặt tổng thể, "nhận diện Trung Quốc" của xã hội Đài Loan không hề bị đứt gãy căn bản. Dù chống cộng, nhưng ý thức dòng chính vẫn tự coi mình là người Trung Quốc.

Sự thay đổi mang tính quy mô lớn thực sự diễn ra là vào thập niên 1990 khi Lý Đăng Huy đưa ra thuyết hai nước, đặc biệt là sau khi Dân Tiến Đảng lên nắm quyền. Thông qua giáo dục lâu dài, sửa đổi sách giáo khoa, tuyên truyền truyền thông, động viên chính trị, cộng thêm các nguồn lực xã hội và sức mạnh thể chế, "khử Trung Quốc hóa" đã trở thành một công trình dài hạn. Cho đến nay, "kháng Trung bảo Đài" đã trở thành một lối tự sự chính trị có thể động viên xã hội Đài Loan một cách hiệu quả.

Ngày nay ở đại lục có một quan điểm cho rằng, chỉ cần nhấn mạnh văn hóa Trung Hoa là có thể giải quyết được vấn đề Đài Loan. Cá nhân tôi giữ thái độ hoài nghi đối với điều này.

Chỉ dựa vào "văn hóa Trung Hoa" liệu có giải quyết được vấn đề nhận diện bản sắc? Trước đây khi hai bờ giao lưu, không ít người bạn đại lục đều cảm thấy "nơi bảo tồn văn hóa Trung Hoa hoàn chỉnh nhất là Đài Loan", thậm chí nhiều người Đài Loan cũng có sự tự tôn văn hóa này. Ví dụ như khi hai bờ họp hội nghị văn hóa, một số nhân vật Đài Loan sẽ liên tục nhấn mạnh "chữ phồn thể", "chữ chính thể", thậm chí ngày nay còn có người nói "muốn giải quyết vấn đề hai bờ, trước tiên hãy phế bỏ chữ giản thể". Nhưng theo tôi, đây đều không phải là vấn đề căn bản.

Vấn đề thực sự không nằm ở hình thức văn hóa, cũng không nằm ở chữ phồn thể hay chữ giản thể, càng không chỉ là những thứ còn sót lại từ thời Tưởng Giới Thạch. Vấn đề thực sự là gì?

Theo tôi, đó là sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập ngày 1/10/1949, hai bờ đã bước vào những con đường lịch sử khác nhau. Tiếp đó năm 1950 Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Hạm đội 7 của Mỹ tiến vào eo biển Đài Loan, Đài Loan được đưa vào hệ thống chống cộng Đông Á do Mỹ chủ đạo.

Điểm nghẽn cốt lõi nhất của vấn đề Đài Loan ngày nay nằm ở chính chỗ này. Nghĩa là, chỉ cần Trung Quốc còn do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đại đa số người trong xã hội Đài Loan sẽ rất khó chấp nhận.

Tại sao giai đoạn cuối nắm quyền Tưởng Kinh Quốc lại thúc đẩy mở cửa cho phép về quê thăm thân? Thực ra ông ấy cũng có áp lực thực tế. Biết bao nhiêu cựu binh đi theo Quốc Dân Đảng đến Đài Loan, cả đời không được về đại lục, nhiều người đã đến tuổi sáu bảy mươi, cuộc đời sắp kết thúc mà vẫn chưa được nhìn mặt mẹ lần cuối. Dưới áp lực tình cảm đó, Tưởng Kinh Quốc đã mở cửa cho phép về đại lục thăm thân vào năm 1987. Đó là một cống hiến lịch sử mà ông đã làm. Tất nhiên, có nhiều tin vỉa hè nói rằng, Mỹ hoàn toàn không hài lòng với việc ông mở cửa cho hai bờ thăm thân.

Bởi vì điều Mỹ không muốn thấy nhất chính là việc người dân hai bên khôi phục lại mối liên hệ. Trạng thái mà Mỹ muốn duy trì nhất là: Trung Quốc không thể thống nhất, Đài Loan cũng không thể thực sự độc lập, mà luôn ở trong trạng thái đối lập, chia rẽ.

Nói đi nói lại, vẫn là vấn đề đó: Trung Quốc có năng lực thực sự thay đổi toàn bộ cấu trúc sức mạnh Đông Á hay không? Tức là vấn đề cái gọi là "gió Đông có đè được gió Tây hay không".

Vậy thì, đối với những người như chúng tôi, những người kiên trì lập trường thống nhất trong đảo Đài Loan suốt thời gian dài, rốt cuộc chúng tôi có thể làm được gì?

"Nhận thức lịch sử, Đài Loan mới có thể hiểu lại chính mình"

Ngày nay trong số 23 triệu người Đài Loan, số người thực sự công nhận rõ ràng mình là người Trung Quốc đã ngày càng ít đi. Nguyên nhân không phải vì họ "xấu", mà vì họ đã tiếp nhận một nền giáo dục khác trong một thời gian dài. Nhiều người không phải có ý thức "phản Trung", mà là sống lâu trong môi trường xã hội như vậy, vô hình trung đã hình thành nên nhận thức đó.

Mấu chốt của vấn đề là: Làm sao để người Đài Loan thực sự nhận thức lại lịch sử? Làm sao để người Đài Loan thực sự nhận thức về Đảng Cộng sản Trung Quốc? Đặc biệt là hậu duệ của các liệt sĩ đảng hoạt động bí mật tại Đài Loan. Tôi bắt đầu tiếp xúc với lịch sử đảng hoạt động bí mật Đài Loan từ năm 1987, tiếp xúc với rất nhiều thân nhân liệt sĩ, nhưng nhiều hậu duệ liệt sĩ thực ra lại không công nhận Đảng Cộng sản.

Câu hỏi đặt ra là: Tại sao những thân nhân liệt sĩ này lại đi đến phía đối lập với cha anh mình? Rất đơn giản, vì họ hoàn toàn không hiểu lịch sử. Từ nhỏ họ chỉ biết "cha mình bị Quốc Dân Đảng giết", chứ không biết tại sao cha lại bị giết. Từ thập niên 1950 trở đi, lịch sử của đảng hoạt động bí mật ở Đài Loan hoàn toàn không được phép nhắc tới, hễ nhắc tới là sẽ gặp chuyện. Nhiều gia đình thậm chí hoàn toàn không bàn luận về những chuyện này trong nội bộ. Đồng thời, họ lại lớn lên trong nền giáo dục chống cộng của Quốc Dân Đảng, dần dần ngược lại đứng về phía đối lập với cha anh mình.

Từ thập niên 1940 đến đầu thập niên 1950, Đài Loan có một lượng lớn thanh niên dấn thân vào tổ chức bí mật do Đảng Cộng sản lãnh đạo, trong đó nhiều người không phải là những nhân vật ngoài lề. Ngược lại, họ chính là một thế hệ thanh niên ưu tú nhất của Đài Loan thời bấy giờ, có trí thức, sinh viên, giáo viên, thậm chí bao gồm cả những người xuất thân từ gia đình địa chủ. Như cuốn "Bài ca xe ngựa" (Hành khúc xe mui trần) tôi viết (sau này Hầu Hiếu Hiền dựng thành phim "Trai tốt gái tốt") kể chính là về những con người này. Những thanh niên Đài Loan đó trưởng thành ở vùng đất thực dân Đài Loan, sau đó đến với đại lục Tổ quốc, cuối cùng tại sao "đi tới đi lui lại đi đến phía Đảng Cộng sản"? Đây không phải là ngẫu nhiên. Họ đã trải qua sự thống trị thực dân của Nhật Bản, cũng trải qua sự hỗn loạn và hủ bại của Quốc Dân Đảng sau chiến tranh, cuối cùng họ nhận ra: Đảng Cộng sản đại diện cho một niềm hy vọng mới. Vấn đề của Đài Loan không thể chỉ dựa vào nội bộ Đài Loan để giải quyết, mà bắt buộc phải kết hợp với toàn bộ cuộc cách mạng Trung Quốc. Vì vậy, họ đã tham gia vào tổ chức bí mật của Đảng Cộng sản. Đó là một phần của lịch sử Đài Loan, chỉ là nhiều người trẻ Đài Loan ngày nay đã hoàn toàn không biết nữa rồi.

Hơn nữa, tình hình Đài Loan sau năm 1949 ban đầu không giống như ngày hôm nay. Bây giờ nhiều người có thể không biết, trước khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Đài Loan đã rất gần với việc "giải phóng". Thời điểm đó, tổ chức bí mật của Đảng Cộng sản phát triển rất nhanh ở Đài Loan, nhiều người đều cho rằng cục diện đã tiến gần đến giai đoạn cuối cùng. Nhưng ngày 25/6/1950 khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Hạm đội 7 của Mỹ tiến vào eo biển Đài Loan, toàn bộ cục diện đã thay đổi hoàn toàn, vấn đề Đài Loan bị kéo dài cho đến tận ngày nay.

Sau năm 1949, Tưởng Giới Thạch rút chạy về Đài Loan, bắt đầu tiến hành đàn áp quy mô lớn, sau đó bước vào thời kỳ Khủng bế trắng đằng đẵng. Sớm nhất như "Sự kiện trường Trung học Cơ Long", "Sự kiện báo "Quang Minh"..., rất nhiều người đã bị bắt. Sau tháng 12/1949, các cuộc xử bắn quy mô lớn dưới danh nghĩa "gián điệp cộng sản" bắt đầu được triển khai.

Ban đầu Tưởng Giới Thạch chủ yếu đàn áp cái gọi là "người ngoại tỉnh". Lúc đó vị thế chính trị của ông ta không vững, Mỹ có lúc không hoàn toàn ủng hộ Tưởng Giới Thạch, từng cân nhắc nâng đỡ các thế lực của Tôn Lập Nhân, Ngô Quốc Trinh... Đồng thời, trong nội bộ xã hội Đài Loan, từ giai cấp tư sản cho đến phái tả, nhìn chung đều có thái độ bất mãn với Quốc Dân Đảng. Quan trọng hơn là, lúc đó Quân Giải phóng có thể vượt biển bất cứ lúc nào. Vì vậy, ban đầu Tưởng Giới Thạch không dám tiến hành đàn áp quy mô lớn đối với "người bản tỉnh" Đài Loan, ông ta lo ngại làm như vậy sẽ lại làm bùng nổ một cuộc phản kháng xã hội tương tự như sự kiện 228. Trong khi đó, việc đàn áp "người ngoại tỉnh" có ảnh hưởng xã hội tương đối nhỏ hơn, nhiều người ngoại tỉnh đến Đài Loan có quan hệ xã hội hạn chế, không có mạng lưới địa phương sâu dày. Nhưng cùng với việc Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, cục diện quốc tế thay đổi hoàn toàn, Mỹ quay lại ủng hộ toàn diện cho Tưởng Giới Thạch, Đài Loan cũng thực sự bước vào thể chế Chiến tranh Lạnh.

Thế hệ chúng tôi chính là trưởng thành trong "thời đại Chiến tranh Lạnh chống cộng" đó. Nhưng ngay cả như vậy, hồi nhỏ chúng tôi không hề nghi ngờ mình là người Trung Quốc. Điểm này rất quan trọng, vấn đề không nằm ở "nhận diện Trung Quốc", mà nằm ở chỗ xã hội Đài Loan nhìn nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc như thế nào.

Ngày nay nếu thực sự muốn giải quyết vấn đề Đài Loan, mấu chốt chính là làm sao để xã hội Đài Loan nhận thức lại về Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đây không phải là tuyên truyền đơn giản, mà là sự lý giải thực sự: Tại sao vào thập niên 1940, 1950, những thanh niên ưu tú nhất của Đài Loan lại lựa chọn Đảng Cộng sản? Tại sao họ sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng? Ngày nay nhiều người Đài Loan, bao gồm cả hậu duệ các liệt sĩ đảng hoạt động bí mật, hoàn toàn không hiểu về đoạn lịch sử này.

Nếu đại lục thực sự hy vọng giành được lòng dân Đài Loan, điều quan trọng nhất không chỉ là phát triển kinh tế, không chỉ là giao lưu văn hóa, mà là giúp người Đài Loan hiểu lại lịch sử Đài Loan, đặc biệt là mối quan hệ lịch sử giữa người Đài Loan và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Vấn đề Đài Loan suy cho cùng là vấn đề về nhận thức lịch sử và nhận diện bản sắc. Không có ký ức lịch sử chung thì không thể có tình cảm lịch sử chung; không có tình cảm lịch sử chung thì cũng không thể có sự nhận diện thực sự.

Điều thực sự quan trọng là làm cho những người trẻ tuổi Đài Loan biết được rằng, lịch sử Đài Loan không chỉ có một phiên bản nằm trong sách giáo khoa ngày nay. Trong lịch sử Đài Loan, tồn tại một mạch lịch sử khác từ lâu đã bị đè nén, bị làm cho biến mất, đó chính là mối quan hệ giữa người Đài Loan và cách mạng Trung Quốc, bao gồm lịch sử chống Nhật của Đài Loan, lịch sử đảng hoạt động bí mật, cũng như lịch sử thanh niên Đài Loan tham gia vào cách mạng Trung Quốc.

Những phần lịch sử này nếu không được nhìn nhận lại, thì sự hiểu biết của xã hội Đài Loan đối với Trung Quốc sẽ mãi mãi dừng lại ở một trạng thái bị cắt xẻ, bị đơn giản hóa. Nhiều vấn đề của xã hội Đài Loan ngày nay đều có liên quan đến sự đứt gãy lịch sử này.

Tôi luôn nhấn mạnh rằng, nhận thức lịch sử Đài Loan không chỉ là vấn đề học thuật, mà là một vấn đề hiện thực. Chỉ có hiểu lại lịch sử, người Đài Loan mới có thể hiểu lại chính mình. Chỉ có như vậy, giữa hai bờ eo biển mới có khả năng thực sự xây dựng nên một thứ tình cảm lịch sử chung, nếu không hai bên sẽ mãi mãi chỉ là mỗi bên tự nói phần mình.

Tôi nghĩ, đó chính là điều tôi muốn nói nhất trong bài diễn thuyết ngày hôm nay.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét