Tăng trưởng kinh tế hai con số của Trung Quốc và Bài học cho Việt Nam
Mình đang xem cuốn sách của ông Triệu Yanjing, Giáo sư Đại học Hạ Môn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Quy hoạch Đô thị Trung Quốc. Ông viết về mối quan hệ giữa Đô thị hóa và Tăng trưởng Kinh tế Trung Quốc hay quá. Logic và khung phân tích của GS Triệu Yanjing là: "đất đai - đô thị hóa - tăng trưởng".Tên sách như sau: Triệu Yanjing: "Bước ngoặt lớn: Nợ hiện đại và Tăng trưởng bền vững", Nhà xuất bản Đại học Nhân dân Trung Quốc, ấn bản năm 2026.
Tóm tắt nội dung như sau:

Tình hình kinh tế hiện tại của Trung Quốc chính là kết quả tất yếu của quá trình chuyển đổi giai đoạn phát triển đô thị hóa. Trong giai đoạn tăng trưởng vận hành đô thị, các chính sách kinh tế đô thị, bao gồm tiêu chuẩn đánh giá, hệ thống đô thị, sáng tạo nợ và xử lý nợ vỡ, cần có sự chuyển đổi mang tính hệ thống.
Như Lucas (Robert E. Lucas) từng nói khi bàn về vấn đề tăng trưởng: "Những vấn đề liên quan đến phúc lợi con người trong lĩnh vực này thật đáng kinh ngạc; một khi bạn bắt đầu suy nghĩ về chúng, sẽ rất khó để nghĩ về bất cứ điều gì khác".
Nếu học theo Trung Quốc, Việt Nam cần xác định rõ những "thời điểm chuyển tiếp" này cho từng vùng, tránh đầu tư dàn trải khi thấy tín hiệu hiệu suất vốn bước sang giai đoạn suy giảm, tức hệ số ICOR tăng lên.
10. Bài học cho Việt Nam
Thể chế đất đai Việt Nam có sự khác biệt căn bản so với Trung Quốc nhưng có cơ hội "đi tắt đón đầu"
Việt Nam không cần sao chép 'con đường đất đai' của Trung Quốc, nhưng cần học cách tư duy về 'vốn khởi động cho đô thị hóa'. Bài học cốt lõi không nằm ở công cụ, mà nằm ở tư duy: coi đô thị hóa không phải là mục tiêu, mà là phương tiện để kiến tạo giá trị và tạo ra tăng trưởng kinh tế cao dài hạn.
Tăng trưởng hai con số chỉ bền vững khi nó được xây dựng trên nền tảng: (1) thể chế minh bạch, (2) phân bổ vốn hiệu quả, và (3) khả năng thích ứng với biến đổi mô hình tăng trưởng toàn cầu.
1. Giáo sư Triệu khẳng định: "Đô thị hóa và Công nghiệp hóa là hai bánh xe chủ đạo thúc đẩy hiện đại hóa. Nếu muốn giải thích đúng đắn sự tăng trưởng của Trung Quốc, bắt buộc phải xem đô thị hóa là một biến số chủ đạo thúc đẩy tăng trưởng. Không có đô thị hóa, việc giải mã bài toán tăng trưởng Trung Quốc sẽ thiếu mảnh ghép quan trọng nhất".
Việt Nam cũng đang ồ ạt tiến hành Đô thị hóa và Công nghiệp hóa, coi đây cũng là hai bánh xe chủ đạo, cùng với bánh xe thứ ba là khu vực kinh tế có vốn Đầu tư nước ngoài, để tạo ra tăng trưởng kinh tế hai con số trong hai thập kỷ sắp tới. Bài học Trung Quốc rõ ràng rất thú vị với Việt Nam.
Đặc biệt, hiện nay Việt Nam còn có thêm bánh xe thứ ba rất mạnh, giống như một cỗ xe tam mã, nên có thể đi nhanh hơn, và làm xuất hiện thêm câu hỏi: Trong ba bánh xe thì bánh xe nào đi trước dẫn dắt quá trình tăng trưởng hai con số ?
2. Để giải thích đúng đắn sự tăng trưởng của Trung Quốc, Giáo sư Triệu cho rằng bắt buộc phải xem đô thị hóa là nhân tố tăng trưởng chủ đạo. Đô thị là tập hợp của các tài sản nặng (heavy assets); và dòng vốn khởi động cho quá trình đô thị hóa chính là nhân tố cốt lõi nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
2. Để giải thích đúng đắn sự tăng trưởng của Trung Quốc, Giáo sư Triệu cho rằng bắt buộc phải xem đô thị hóa là nhân tố tăng trưởng chủ đạo. Đô thị là tập hợp của các tài sản nặng (heavy assets); và dòng vốn khởi động cho quá trình đô thị hóa chính là nhân tố cốt lõi nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vốn khởi động cho tăng trưởng hiện đại bắt nguồn từ việc chiết khấu (discounting) các lợi ích trong tương lai. Chế độ sở hữu đất đai độc đáo của Trung Quốc không chỉ khiến thị trường bất động sản trở thành nguồn vốn quan trọng nhất của Trung Quốc, mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi tiền tệ từ tiền tệ dựa trên hiện vật (commodity money) sang tiền tệ tín dụng (fiat money).
3. Nhìn lại tăng trưởng kinh tế Trung Quốc từ góc độ đô thị hóa có thể phát hiện: đằng sau sự tăng trưởng ấy ẩn chứa một chuỗi logic xoay quanh sự tiến hóa của chế độ đất đai.
Như vậy, sự tiến hóa của chế độ đất đai cũng có thể là nhân tố tạo ra sự thần kỳ trong phát triển tương lai của Việt Nam.
Tình hình kinh tế hiện tại của Trung Quốc chính là kết quả tất yếu của quá trình chuyển đổi giai đoạn phát triển đô thị hóa. Trong giai đoạn tăng trưởng vận hành đô thị, các chính sách kinh tế đô thị, bao gồm tiêu chuẩn đánh giá, hệ thống đô thị, sáng tạo nợ và xử lý nợ vỡ, cần có sự chuyển đổi mang tính hệ thống.
Như Lucas (Robert E. Lucas) từng nói khi bàn về vấn đề tăng trưởng: "Những vấn đề liên quan đến phúc lợi con người trong lĩnh vực này thật đáng kinh ngạc; một khi bạn bắt đầu suy nghĩ về chúng, sẽ rất khó để nghĩ về bất cứ điều gì khác".
4. Sự thần kỳ của Trung Quốc: Hơn bốn thập kỷ qua, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đã vượt quá dự đoán của tất cả mọi người, kể cả những người thiết kế công cuộc Cải cách Mở cửa, và có thể được miêu tả là một "thần kỳ" hay "kỳ tích". Các hiện tượng tự nhiên "bất thường" thường mang lại tiến bộ, thậm chí cách mạng, cho khoa học tự nhiên. Các hiện tượng "bất thường" trong kinh tế cũng nên như vậy.
Lý do khiến chính sách kinh tế hiện tại của Trung Quốc rơi vào trạng thái mơ hồ chính là việc không thể nói rõ động lực tăng trưởng của Trung Quốc là gì. Nếu không hiểu vì sao nền kinh tế tăng trưởng, sẽ không thể giải thích vì sao nền kinh tế đình trệ. Và một khi diễn giải sai vấn đề, càng không thể nhìn thấy những cơ hội và rủi ro mà tăng trưởng Trung Quốc có thể đối mặt trong tương lai.
5. Thất bại của các lý giải kinh tế học đương đại với tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc
Cho đến nay, hầu hết các lý giải về tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đều bị "đóng gói" trong hai khái niệm hộp đen: "Cải cách" và "Mở cửa".
5. Thất bại của các lý giải kinh tế học đương đại với tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc
Cho đến nay, hầu hết các lý giải về tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đều bị "đóng gói" trong hai khái niệm hộp đen: "Cải cách" và "Mở cửa".
Hàm ý ẩn chứa là: sự tăng trưởng của Trung Quốc chẳng qua là kết quả tất yếu của quá trình chuyển từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, không có gì đặc biệt. Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc chẳng qua là sao chép thành công của Nhật Bản và "Bốn con hổ châu Á" trên quy mô lớn hơn.
Cách lý giải này nghe qua có vẻ hợp lý, nhưng lại không thể giải thích được vì sao những nền kinh tế thực hiện kinh tế thị trường sớm hơn Trung Quốc, gia nhập WTO sớm hơn (ví dụ như Ấn Độ) lại không đạt được hiệu quả kinh tế tương tự.
Do đó, một số người lại bắt đầu suy đoán rằng "sự trỗi dậy lớn" của Trung Quốc chẳng qua là sự ngẫu nhiên của lịch sử, thậm chí là kết quả của cuộc cạnh tranh "đáy thấp" gọi là "nhân quyền thấp".
Những câu trả lời mơ hồ tạo ra ảo giác cho mọi người, dường như nguyên nhân đằng sau sự tăng trưởng của Trung Quốc hoặc là lẽ thường, hoặc là may mắn.
Sự lười biếng về lý thuyết tất yếu dẫn đến sự thiếu hiểu biết về nhận thức. Đối với vấn đề tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, việc tuân theo các lý giải dựa trên lý thuyết tăng trưởng truyền thống sai lầm tất yếu sẽ dẫn đến những kết luận đầy sai sót.
Sự lười biếng về lý thuyết tất yếu dẫn đến sự thiếu hiểu biết về nhận thức. Đối với vấn đề tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, việc tuân theo các lý giải dựa trên lý thuyết tăng trưởng truyền thống sai lầm tất yếu sẽ dẫn đến những kết luận đầy sai sót.
6. Sự thật làm người ta choáng váng
Một sự thật mà giới học thuật choáng váng và cố tình tránh né chính là: toàn bộ giới kinh tế học gần như hoàn toàn thất bại trong việc dự báo tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Năm 2002, Báo cáo Đại hội XVI của Đảng CSTQ đề ra mục tiêu: "Đến năm 2020, nỗ lực đưa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) gấp bốn lần so với năm 2000", tức tổng sản lượng trong nước đạt 35,76 nghìn tỷ nhân dân tệ. Theo dự kiến, đến năm 2020, GDP bình quân đầu người sẽ đạt trên 3.000 USD.
Kết quả là, mới chỉ đến năm 2019, GDP của Trung Quốc đã tiệm cận 100 nghìn tỷ nhân dân tệ, GDP bình quân đầu người vượt 10.000 USD. Nhiều nhà kinh tế từng tham gia đề xuất mục tiêu này đến nay vẫn còn sống, nhưng chưa một ai đứng ra tự vấn vì sao dự báo năm đó lại sai lệch nghiêm trọng đến vậy.
Năm 2009, Trương Ngũ Thường trong cuốn "Thể chế Kinh tế Trung Quốc" đã đưa ra câu hỏi nổi tiếng "Câu hỏi Trương Ngũ Thường": "Trung Quốc chắc chắn đã làm đúng điều gì?".
Năm 2009, Trương Ngũ Thường trong cuốn "Thể chế Kinh tế Trung Quốc" đã đưa ra câu hỏi nổi tiếng "Câu hỏi Trương Ngũ Thường": "Trung Quốc chắc chắn đã làm đúng điều gì?".
Ông đưa ra lời giải thích là "cạnh tranh giữa các huyện" và "cải cách cấu trúc hợp đồng". Lý thuyết này tương tự các lý thuyết vi mô mà các học giả như Tiền Dĩnh Nhất, Hứa Thành Steel, Weingast đề xuất những năm 1990 về "Chủ nghĩa liên bang bảo vệ thị trường" (market-preserving federalism), hay "Chủ nghĩa giành giật chính trị" (political tournament) mà Chu Lê An đề xuất, gắn thăng tiến với hiệu quả kinh tế, chỉ có thể giải thích vì sao một vùng phát triển nhanh hơn vùng khác, nhưng không thể giải thích được những thành tựu tăng trưởng kinh tế vĩ mô hai con số của Trung Quốc.
7. "Ai có thể giải thích đúng sự phát triển của Trung Quốc, người đó sẽ giành được Giải Nobel Kinh tế"
Lý thuyết tăng trưởng là một nhánh học thuật có lịch sử lâu đời nhất trong kinh tế học. Giải Nobel Kinh tế năm 2024 và 2025 liên tiếp được trao cho các nhà nghiên cứu về tăng trưởng. Nhưng nghiên cứu của những học giả này không chỉ khó có thể dùng trực tiếp để giải thích tăng trưởng của Trung Quốc, mà thậm chí còn đưa ra những kết luận trái ngược với thực tế.
7. "Ai có thể giải thích đúng sự phát triển của Trung Quốc, người đó sẽ giành được Giải Nobel Kinh tế"
Lý thuyết tăng trưởng là một nhánh học thuật có lịch sử lâu đời nhất trong kinh tế học. Giải Nobel Kinh tế năm 2024 và 2025 liên tiếp được trao cho các nhà nghiên cứu về tăng trưởng. Nhưng nghiên cứu của những học giả này không chỉ khó có thể dùng trực tiếp để giải thích tăng trưởng của Trung Quốc, mà thậm chí còn đưa ra những kết luận trái ngược với thực tế.
Hơn một nhà kinh tế từng nói: "Ai có thể giải thích đúng sự phát triển của Trung Quốc, người đó sẽ giành được Giải Nobel Kinh tế". Điều này tự nó đã chứng minh rằng: các lý thuyết kinh tế học hiện có vẫn tồn tại những điểm mù lớn trong lĩnh vực giải thích tăng trưởng thực tế.
8. Góc nhìn đô thị hóa có thể lấp đầy điểm mù này của lý thuyết tăng trưởng.
Lý thuyết này không chỉ có thể giải thích tăng trưởng của Trung Quốc, mà còn có thể giải thích tăng trưởng của các quốc gia khác trên thế giới. Đặc biệt, có thể dùng chuyển đổi đô thị hóa để giải thích chuyển đổi giai đoạn tăng trưởng hiện tại của Trung Quốc.
Có thể nói: không có sự hiểu biết đúng đắn về đô thị hóa, sẽ không thể hiểu đúng mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng, cũng không thể tránh được những sai sót quyết định trong quá trình chuyển đổi tăng trưởng.
9. Cái bẫy của "tăng trưởng dựa trên vốn" và sự chuyển đổi tất yếu sang "tăng trưởng vận hành"
9. Cái bẫy của "tăng trưởng dựa trên vốn" và sự chuyển đổi tất yếu sang "tăng trưởng vận hành"
Tuy nhiên, Trung Quốc đang đối mặt với thách thức chuyển đổi khi hạ tầng cơ bản đã hoàn thành: Cần phải nhanh chóng chuyển từ "xây để tăng trưởng" sang "vận hành để tạo ra giá trị".
Bài học then chốt là: Thời điểm chuyển đổi quan trọng hơn tốc độ tăng trưởng. Nếu chậm chuyển đổi, nền kinh tế sẽ rơi vào bẫy nợ xấu và giảm phát tài sản.
Nếu học theo Trung Quốc, Việt Nam cần xác định rõ những "thời điểm chuyển tiếp" này cho từng vùng, tránh đầu tư dàn trải khi thấy tín hiệu hiệu suất vốn bước sang giai đoạn suy giảm, tức hệ số ICOR tăng lên.
10. Bài học cho Việt Nam
Thể chế đất đai Việt Nam có sự khác biệt căn bản so với Trung Quốc nhưng có cơ hội "đi tắt đón đầu"
Trung Quốc: Đất đô thị thuộc sở hữu toàn dân, chính quyền địa phương độc quyền cung cấp đất sơ cấp nên dễ tạo "bong bóng có kiểm soát" nhưng cũng dễ tích tụ rủi ro hệ thống.
Việt Nam: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng quyền sử dụng đất được trao cho hộ gia đình, cá nhân lâu dài, đồng thời thị trường bất động sản thứ cấp phát triển sớm hơn Trung Quốc.
Điều này mang đến cơ hội cho Việt Nam, vì Việt Nam có thể thiết kế cơ chế "tài chính đất đai" linh hoạt hơn, kết hợp giữa vai trò dẫn dắt của nhà nước và sự tham gia của khu vực tư nhân, tránh phụ thuộc quá mức vào chính sách "đổi đất lấy hạ tầng".
Việt Nam không cần sao chép 'con đường đất đai' của Trung Quốc, nhưng cần học cách tư duy về 'vốn khởi động cho đô thị hóa'. Bài học cốt lõi không nằm ở công cụ, mà nằm ở tư duy: coi đô thị hóa không phải là mục tiêu, mà là phương tiện để kiến tạo giá trị và tạo ra tăng trưởng kinh tế cao dài hạn.
Tăng trưởng hai con số chỉ bền vững khi nó được xây dựng trên nền tảng: (1) thể chế minh bạch, (2) phân bổ vốn hiệu quả, và (3) khả năng thích ứng với biến đổi mô hình tăng trưởng toàn cầu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét