Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2026

Nhìn lại 40 năm đổi mới và chính sách để VN hóa rồng

Để chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và hưởng ứng mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong 20 năm tới của Tổng bí thư Tô Lâm, tôi xin đăng toàn văn bài viết của tôi đã công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế Việt Nam. Nội dung như sau:
NHÌN LẠI 4 THẬP KỶ ĐỔI MỚI (1986-2025) VÀ BÀI TOÁN CHÍNH SÁCH ĐỂ VIỆT NAM VƯƠN MÌNH HÓA RỒNG
TS Lê Việt Đức, Trường Đại học Thăng Long
Sáng 2/9/2025 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ở Thủ đô Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đọc Diễn văn Kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025). Trong bài diễn văn rất ngắn gọn, trí tuệ và đầy tâm huyết của mình, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định “Hướng tới tương lai, Đảng ta đặt mục tiêu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam là quốc gia hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc. Đó là khát vọng của cả Dân tộc, là lời thề danh dự trước Lịch sử, trước Nhân dân”.

Trước đó, chiều 24/01/2025, tại Thủ đô Hà Nội, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thống nhất “mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8% trở lên trong năm 2025 và tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 liên tục đạt 2 con số; đây là những mục tiêu phải phấn đấu thực hiện để Việt Nam thoát ra khỏi bẫy thu nhập trung bình, để đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Như vậy Tổng Bí thư Tô Lâm và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra những mục tiêu tăng trưởng kinh tế rất cao, thậm chí chưa từng có trong lịch sử nước ta, cho giai đoạn 20 năm tới (2026-2045).

Bài viết này sẽ nhìn lại chặng đường 4 thập kỷ đổi mới kinh tế vừa qua ở nước ta (1986-2025), vạch ra những xu hướng và quy luật vận động dài hạn của nền kinh tế, dự đoán các khả năng tăng trưởng và tính khả thi của những mục tiêu đầy tham vọng nêu trên, trên cơ sở đó đề xuất các định hướng chính sách mạnh mẽ và đồng bộ nhằm tạo ra những bước tiến đột phá về tốc độ tăng trưởng kinh tế để biến các mục tiêu được Tổng Bí thư Tô Lâm và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra thành hiện thực.

1. Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới (1986-2025)

1.1. Tăng trưởng kinh tế dài hạn khá ổn định và có xu hướng đi lên khá vững chắc

Phân tích và dự báo tính khả thi của những mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong dài hạn không chỉ cần nghiên cứu nhu cầu và các nguồn lực cần thiết cho giai đoạn tới, mà còn phải nghiên cứu xu hướng và kinh nghiệm của quá trình tăng trưởng trước. Hình 1 dưới đây minh họa quá trình tăng trưởng kinh tế trong 40 năm đổi mới vừa qua. Ấn tượng đầu tiên và nổi bật là mặc dù nền kinh tế có những bước tăng trưởng thăng trầm như mọi nền kinh tế khác trên thế giới, nhưng vẫn có sự ổn định khá vững chắc (trừ khi môi trường khách quan như đại dịch Covid-19 hay khủng hoảng kinh tế thế giới quá bất lợi), thể hiện ở tỷ lệ tăng trưởng trung bình trong 40 năm qua đạt 6,5%/năm, trong khi đường xu thế tăng trưởng dài hạn (đường các dấu chấm nhạt) khá ổn định và có xu hướng đi lên khá mạnh mẽ (từ dưới 6%/năm trong giai đoạn đầu lên hơn 7%/năm trong giai đoạn gần đây).

Hình 1: Tỷ lệ tăng trưởng GDP (%)

Nguồn: Niên giám thống kê. Trong bài này, các số liệu năm 2025 là dự đoán trên cơ sở kết quả thực tế trong 8 tháng đầu năm 2025

Trong 40 năm qua, nền kinh tế chỉ trải qua hai cú sốc đáng kể là sốc dương trong giai đoạn 1991-1997 với tỷ lệ tăng trưởng trung bình rất cao là 8,4%/năm và sốc âm trong hai năm xảy ra đại dịch Covid-19 2020-2021 với tỷ lệ tăng trưởng trung bình chỉ 2,75%/năm. Nếu loại bỏ 2 năm xảy ra đại dịch (2020, 2021) và 3 năm cao điểm của khủng hoảng kinh tế khu vực và thế giới (1998, 1999 và 2023), thì tỷ lệ tăng trưởng trung bình lên tới 7%/năm. Và nếu loại trừ thêm ảnh hưởng của đại suy thoái kinh tế thế giới (2008-2013) thì tỷ lệ tăng trưởng trung bình lên tới 7,7%/năm.

Mặt khác, thời gian nền kinh tế suy giảm tỷ lệ tăng trưởng thường rất ngắn, chỉ kéo dài trong 1-2 năm, trong khi giai đoạn nền kinh tế phục hồi và duy trì ở tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng đều khá dài. Ví dụ điển hình là các giai đoạn 1991-1997, 2000-2007 và 2014-2019 đều kéo dài tới 6-8 năm với tỷ lệ tăng trưởng trung bình mỗi giai đoạn đều trên 7%/năm, thậm chí tới 8,4%/năm trong giai đoạn 1991-1997. Đây đều là những dấu hiệu cho thấy sức đề kháng trước các cú sốc và khả năng vươn lên của nền kinh tế nước ta khá mạnh mẽ.

Các phân tích chi tiết hơn cho thấy tỷ lệ tăng trưởng trung bình trong 40 năm qua còn khá khiêm tốn là do trong nội bộ nền kinh tế còn rất nhiều yếu kém và môi trường khách quan không thuận lợi. Nếu trong 20 năm tới, những yếu kém này được khắc phục và môi trường phát triển thuận lợi hơn, chắc chắn tỷ lệ tăng trưởng trung bình sẽ cao hơn rất đáng kể.

1.2. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch vững vàng theo hướng công nghiệp hóa

Quá trình tăng trưởng kinh tế dài hạn nêu trên gắn liền với những thay đổi ổn định và khá bền vững của cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa. Nếu như trong nửa cuối thập kỷ 1980 đã diễn ra quá trình giảm tỷ trọng công nghiệp (ngành sử dụng nhiều vốn, ít lao động) và tăng tỷ trọng các ngành nông nghiệp và dịch vụ (sử dụng ít vốn, nhiều lao động) để khai thác thế mạnh về nguồn nhân lực dư thừa của đất nước và chính sách mở cửa, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu nông sản, thì trong thập kỷ 1990 và nửa đầu thập kỷ 2000, đã có một quá trình bùng nổ công nghiệp hoá, trong khi tỷ trọng khu vực nông nghiệp liên tục giảm mạnh.

Hình 2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành (% của GDP)


Nguồn: Niên giám thống kê

Hình 2 cũng cho thấy trong những giai đoạn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ có xu hướng liên tục tăng lên khá nhanh. Đặc biệt, trong khoảng 10 năm gần đây, tỷ trọng khu vực công nghiệp đã gia tăng mạnh mẽ mang tính chất đột phá, tương tự như giai đoạn 1991-2004, từ khoảng 34% trong các năm 2015-2016 lên tới xấp xỉ 40% vào năm 2025, trong đó nổi bật là ngành công nghiệp chế biến chế tạo, năm 2025 đã chiếm khoảng 25% GDP và 80% kim ngạch xuất khẩu. Điều này khẳng định công nghiệp đang vươn lên để trở thành khu vực chủ đạo của nền kinh tế; nếu xu hướng công nghiệp hóa này tiếp tục kéo dài thì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của nước ta sẽ có cơ hội gia tăng mạnh mẽ trong những thập kỷ tới.

1.3. Đầu tư liên tục được duy trì ở mức cao và là động lực cho quá trình tăng trưởng dài hạn

Đầu tư đóng vai trò rất quan trọng đến quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế vì nó không chỉ là nhân tố cung (đầu vào) đối với sản xuất mà còn là nhân tố cầu (tạo ra nhu cầu mới thông qua xây dựng thêm nhà xưởng, mua sắm thêm trang thiết bị, thuê thêm lao động... phục vụ đầu tư); do đó đầu tư là một nhân tố rất đặc biệt, có thể tham gia giải thích tăng trưởng kinh tế trong cả mô hình cung lẫn mô hình cầu, trong cả tăng trưởng ngắn hạn lẫn tăng trưởng dài hạn. Quá trình đưa nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường và những thay đổi mạnh mẽ về cơ chế, chính sách đầu tư từ năm 1986 đến nay đã làm cho môi trường kinh doanh ở nước ta ngày càng lành mạnh hơn, từ đó đã khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ vốn ra đầu tư làm giàu, góp phần nâng cao tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trong suốt 40 năm qua.

Hình 3: Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và đầu tư trên GDP (%)

Nguồn: tác giả tính từ các số liệu trong Niên giám thống kê

Các số liệu thống kê trong hình 3 cho thấy nguồn gốc chính của những tỷ lệ tăng trưởng kinh tế khá cao của nước ta trong bốn thập kỷ đổi mới vừa qua gắn liền với việc gia tăng và duy trì được tỷ lệ đầu tư trên GDP rất cao. Trong thập kỷ đầu tiên (1986-1995), tỷ lệ tăng trưởng GDP bám sát với tỷ lệ đầu tư trên GDP. Trong ba thập kỷ tiếp sau (1996-2025), tỷ lệ đầu tư liên tục được duy trì ở mức cao, trung bình 35,3% GDP; quan hệ giữa tỷ lệ tăng trưởng GDP và tỷ lệ đầu tư trên GDP vẫn khá chặt chẽ, nhưng hiệu quả đầu tư giảm mạnh so với thập kỷ đầu tiên, làm cho chênh lệch giữa hai tỷ lệ này khá lớn. Đặc biệt trong ba thập kỷ này đã xảy ra nhiều sự kiện khách quan gây tác động mạnh làm giảm hiệu quả đầu tư, như khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997-1999, khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu 2007-2011 rồi 2023 và đại dịch Covid-19 2020-2021. Nếu loại trừ những tác động tiêu cực này thì tỷ lệ tăng trưởng GDP của nước ta chắc chắn sẽ cao hơn đáng kể so với thực tế.

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế, người ta thường sử dụng hệ số ICOR. ICOR cho biết cần bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư để tạo ra một đơn vị tăng trưởng GDP, nên có thể tính ICOR bằng cách chia tỷ lệ đầu tư cho tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Hình 4 cho thấy hệ số ICOR của nước ta có xu hướng tăng lên rất nhanh trong 25 năm đầu đổi mới (1986-2010), làm cho ICOR những năm 2008-2010 cao gấp 3-4 lần so với những năm 1986-1988. Tuy nhiên, từ năm 2010 đến nay, ICOR gần như giảm liên tục và giảm khá nhanh, đến năm 2025 chỉ còn khoảng 5. ICOR chỉ tăng trong hai năm 2020-2021 và năm 2023 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu. Đại dịch và suy thoái đã làm tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và kim ngạch xuất khẩu giảm rất mạnh, dẫn tới ICOR tăng mạnh.

Hình 4: Hệ số ICOR (theo giá so sánh 2010)

Nguồn: tác giả tính từ các số liệu trong Niên giám thống kê

ICOR liên tục giảm mạnh trong thời gian dài cũng là một điểm son về hiệu quả đầu tư. Bất chấp những khó khăn chủ quan và khách quan, trong gần bốn thập kỷ qua, nền kinh tế nước ta không những liên tục duy trì được tỷ lệ đầu tư cao mà còn giảm dần được hệ số ICOR. Nếu môi trường phát triển trong hai thập kỷ tới thuận lợi hơn, tỷ lệ đầu tư tăng lên đồng thời hiệu quả đầu tư cũng tăng lên theo xu thế đã hình thành trong 15 năm qua, thì cơ hội nâng cao tỷ lệ tăng trưởng kinh tế là hoàn toàn khả thi.

1.4. Năng suất lao động không ngừng được cải thiện và đã thực sự trở thành động lực của quá trình tăng trưởng dài hạn

Lý thuyết và kinh nghiệm thế giới đều khẳng định vai trò quan trọng của lao động và năng suất lao động đối với quá trình tăng trưởng và công nghiệp hóa, nhưng chưa bao giờ nguồn lực con người lại quan trọng như trong thời đại ngày nay. Nó không chỉ quyết định quy mô, chất lượng và hiệu quả sản xuất trong ngắn và trung hạn mà còn quyết định cả tốc độ tăng trưởng kinh tế có bền vững, lâu dài hay không.

Trong giai đoạn đầu phát triển, nguồn vốn còn khan hiếm, khi cần ưu tiên phát triển nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm cho xã hội, nguồn nhân lực thường đóng vai trò rất quan trọng, như là một nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng chủ yếu của nền kinh tế. Trong giai đoạn phát triển cao hơn (giai đoạn công nghiệp hoá), vai trò của vốn đầu tư tăng lên nhưng không vì thế mà vị trí của nguồn nhân lực bị xem nhẹ vì nó trở thành nhân tố cơ bản tạo ra công nghệ và kỹ thuật mới làm tăng năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Đặc biệt, trong thời đại 4.0 và 5.0, khi tỷ lệ tăng trưởng dân số giảm mạnh về 0%, thậm chí âm, tỷ lệ già hóa dân số rất cao và các nguồn tài nguyên cạn kiệt, năng suất lao động sẽ trở thành động lực gần như duy nhất để duy trì được quá trình tăng trưởng dài hạn. Chỉ khi duy trì được năng suất lao động liên tục cao, các doanh nghiệp mới tham gia được những chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó mới thực hiện được các mục tiêu công nghiệp hóa sâu rộng và tăng trưởng kinh tế nhanh.

Các số liệu tăng trưởng kinh tế và sử dụng lao động từ khi đổi mới đến nay đã khẳng định nguồn nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Trong những năm nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh 1991-1997, 2000-2007 và 2014-2019, tỷ lệ tăng trưởng việc làm trong nền kinh tế quốc dân và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn cũng tăng nhanh trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm khá mạnh. Ngược lại, khi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế chậm lại, tỷ lệ tăng trưởng việc làm trong nền kinh tế quốc dân và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn giảm xuống trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị tăng lên. Có thể nói, luôn luôn tồn tạo một quan hệ khá chặt giữa tăng trưởng kinh tế và sử dụng nguồn nhân lực trong nền kinh tế nước ta. Rõ ràng trong điều kiện cung cơ bản vẫn thấp hơn cầu và tăng trưởng chủ yếu dựa trên phát triển theo chiều rộng ở nước ta, khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nhu cầu sử dụng lao động tăng lên, qua đó lao động đã đóng góp tích cực vào quá trình tăng trưởng kinh tế. Vì quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và sử dụng lao động, vốn đầu tư, đất đai và các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở nước ta trong thời gian qua khá chặt nên có thể tin rằng quá trình phát triển của kinh tế đã chủ yếu dựa trên các nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng.

Hình 5 cho thấy năng suất lao động ở nước ta liên tục tăng lên trong suốt 4 thập kỷ đổi mới, từ 20,63 triệu đồng/lao động năm 1986 lên 129,5 triệu đồng/lao động năm 2025 (theo giá cố định năm 2010). Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng trung bình chỉ đạt 4,8%/năm, tương đối thấp và không ổn định. Điểm sáng là từ năm 2010 đến nay, tỷ lệ tăng trưởng năng suất lao động có xu hướng tăng lên dài hạn, trung bình đạt 5,8%/năm; riêng giai đoạn 2015-2025 đạt 6,5%/năm, cao hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế (6,34%/năm).

Hình 5: Năng suất lao động (triệu đồng/lao động, giá năm 2010) và Tỷ lệ tăng năng suất lao động (%)

Nguồn: tác giả tính từ các số liệu trong Niên giám thống kê

Hình 6 cho thấy trong giai đoạn 1987–2009, số lượng lao động là nhân tố chủ đạo để tạo ra tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Mặc dù tỷ lệ đóng góp của lao động vào tỷ lệ tăng trưởng GDP dao động mạnh nhưng trung bình ở mức rất cao (trên 30–40%). Đây là đặc trưng của các nền kinh tế nông nghiệp chuyển sang công nghiệp sơ khai và là giai đoạn “công nghiệp hóa dựa trên lao động giá rẻ”.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 2009–2019, đã diễn ra quá trình chuyển đổi mạnh mẽ vai trò của lao động và năng suất lao động. Tỷ lệ đóng góp của lao động vào tỷ lệ tăng trưởng GDP giảm dần từ 40% xuống còn 30% và có xu hướng giảm rõ rệt sau năm 2000, tới mức chỉ còn khoảng 10% vào giai đoạn 2014-2019. Ngược lại, tỷ lệ đóng góp của năng suất lao động tăng dần và xu hướng tăng ngày càng nhanh. Đây là dấu hiệu của quá trình công nghiệp hóa theo chiều sâu bắt đầu diễn ra; nó mở ra một giai đoạn tăng trưởng mới dựa trên chất lượng thay vì phụ thuộc vào gia tăng số lượng lao động. Riêng trong các năm 2020, 2021, do tác động của đại dịch Covid-19, số người tham gia lao động giảm trong khi nền kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng dương, nên toàn bộ tăng trưởng kinh tế dựa vào tăng năng suất lao động.

Hình 6: Tỷ lệ đóng góp của Lao động và Năng suất lao động vào tỷ lệ tăng trưởng GDP (%)

Nguồn: tác giả tính từ các số liệu trong Niên giám thống kê

Trong những năm gần đây, môi trường phát triển toàn cầu xấu đi (dịch bệnh, lạm phát, chiến tranh, tái cơ cấu, gãy đứt các chuỗi cung ứng, chính sách bảo hộ…) làm cho vai trò của lao động và năng suất lao động đối với tăng trưởng kinh tế ở nước ta có nhiều biến động. Những biến động này cho thấy tính dễ tổn thương của mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất khi đối diện với những gián đoạn bất thường. Tuy nhiên, xu hướng dài hạn cho thấy nền kinh tế nước ta đã vững vàng vận hành theo mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất lao động.

1.5. Ngoại thương phát triển bùng nổ và trở thành động lực từ bên ngoài để thúc đẩy tăng trưởng

Hoạt động ngoại thương gồm xuất khẩu và nhập khẩu có vai trò nền tảng và một động lực then chốt cho tăng trưởng kinh tế dài hạn của nước ta. Nếu như đầu tư và năng suất lao động là động lực bên trong của quá trình tăng trưởng kinh tế dài hạn thì ngoại thương chính là động lực tăng trưởng từ bên ngoài. Xuất khẩu cho phép các doanh nghiệp khai thác được lợi thế so sánh, mở rộng thị trường tiêu thụ, tạo ra việc làm và làm tăng thu nhập, tức là thúc đẩy tăng trưởng. Nhập khẩu cho phép bổ sung yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất, nhất là công nghệ, tri thức, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, từ đó góp phần nâng cao năng suất và hiện đại hóa sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế. Nhập khẩu cũng hỗ trợ mục tiêu ổn định giá cả trong nước, tạo môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn. Các quan hệ này thể hiện đặc biệt rõ trong thực tiễn kinh tế của Việt Nam, vì Việt Nam vừa là nền kinh tế mở cửa rất cao, rất tích cực tham gia quá trình hội nhập kinh tế và các chuỗi cung ứng quốc tế, vừa là người gia công và cũng là người trực tiếp sản xuất hàng xuất khẩu.

Bảng 1 cho thấy xuất khẩu của Việt Nam đã tăng lên rất nhanh từ khi đất nước thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế. Nếu như tổng giá trị xuất khẩu năm 1985 chỉ đạt 698,5 triệu USD và nhập khẩu chỉ đạt 1857 triệu USD thì đến năm 2025 ước tính xuất khẩu sẽ tăng vọt tới 480 tỷ USD, tức là gấp gần 700 lần và ước tính nhập khẩu sẽ tăng vọt tới 455 tỷ USD, tức là gấp tới 245 lần. Đặc biệt, trong những năm đầu đổi mới Việt Nam còn dựa khá nhiều vào xuất khẩu dầu khí; nếu loại trừ vai trò của xuất khẩu dầu khí thì có thể thấy tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong 40 năm qua còn cao hơn nữa.

Bảng 1: Một số chỉ tiêu chính phản ánh hoạt động xuất nhập khẩu
Nguồn: Niên giám thống kê

Số liệu trong hình 7 cho thấy có một quan hệ đồng biến khá chặt giữa tăng trưởng xuất khẩu, tăng trưởng nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế, nghĩa là trong những năm nền kinh tế tăng trưởng nhanh thì tỷ lệ tăng trưởng xuất nhập khẩu cũng tăng cao và ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng chậm thì tỷ lệ tăng trưởng xuất nhập khẩu cũng chậm lại. Quan hệ nhân quả đi theo chiều nhập khẩu để sản xuất, gia công rồi xuất khẩu và qua đó vừa làm tăng thu nhập, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa có ngoại tệ để nhập khẩu. Vì vậy, nếu như trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục duy trì và mở rộng được động lực tăng trưởng từ bên ngoài này, thì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế sẽ có cơ hội tăng lên đáng kể.

Hình 7: Quan hệ đồng biến giữa tăng trưởng ngoại thương và tăng trưởng kinh tế

Nguồn: Niên giám thống kê

1.6. Đánh giá khái quát về tăng trưởng trong 40 năm đổi mới.

Nhìn bức tranh tổng thể về tăng trưởng kinh tế dài hạn trong 40 năm qua, có thể khẳng định những thành tựu đạt được hết sức to lớn và vững chắc. Tỷ lệ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm đạt 6,5%/năm, nếu loại trừ những năm suy giảm tăng trưởng vì những nguyên nhân khách quan thì đạt tới 7,7%, thuộc tốp cao nhất thế giới (World Bank, 2024). Nhờ tăng trưởng kinh tế nhanh, quy mô GDP từ 4,2 tỷ USD năm 1986 tăng lên 491 tỷ USD năm 2025, tức là gấp 117 lần; đến năm 2025 đã vươn lên thành nền kinh tế lớn thứ 33 thế giới, vượt xa Malaysia, tương đương với Philippines và gần bắt kịp Thái Lan và Singapore. Quá trình tăng trưởng kinh tế ấn tượng trên đi kèm với cơ cấu kinh tế chuyển dịch vững vàng theo hướng công nghiệp hóa. Đầu tư liên tục được duy trì ở mức cao và năng suất lao động không ngừng được cải thiện; cả hai đã thực sự trở thành động lực bên trong của quá trình tăng trưởng dài hạn. Đồng thời ngoại thương cũng phát triển bùng nổ và trở thành động lực từ bên ngoài để thúc đẩy tăng trưởng.

Trong bối cảnh thuộc nhóm các nước nghèo nhất thế giới vào năm 1986 với cơ cấu kinh tế vĩ mô mất cân đối nghiêm trọng và kéo dài, lạm phát cao triền miên, bội chi ngân sách thường xuyên tới 2 con số và môi trường quốc tế bất lợi, những thành tựu kinh tế vĩ mô nêu trên của Việt Nam rất đáng tự hào. Đặc biệt tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các động lực tăng trưởng trên đều có xu hướng phát triển dài hạn, phản ảnh nền kinh tế nước ta đang đi đúng hướng và nếu môi trường phát triển trong tương lai thuận lợi hơn thì hoàn toàn có thể nâng cao được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế.

Tăng trưởng kinh tế ấn tượng của Việt Nam trong 40 năm qua bắt nguồn từ đường lối đổi mới kinh tế táo bạo gồm chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, tự do hóa kinh tế và mở cửa toàn diện, mở ra cơ hội thu hút được một lượng vốn đầu tư rất lớn từ trong và ngoài nước. Theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư (MPI), tính đến hết năm 2024, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt khoảng 480 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện (giải ngân) đạt khoảng 300–320 tỷ USD, dự kiến đến hết năm 2025, tổng vốn FDI thực hiện sẽ vượt mốc 325–330 tỷ USD, tức khoảng 65–70% vốn FDI đăng ký đã thực sự đổ vào nền kinh tế. Ngoài nguồn vốn FDI, Việt Nam còn thu hút vốn các nguồn vốn nước ngoài khác như ODA (viện trợ phát triển chính thức), tín dụng thương mại, vay nợ nước ngoài... Tính chung tổng số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký, cam kết đưa vào Việt Nam lên tới khoảng 650–700 tỷ USD, gồm FDI (đăng ký) khoảng 480 tỷ USD, ODA (cam kết) khoảng 90 tỷ USD (tính đến năm 2023), đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI và các nguồn vốn nước ngoài khác khoảng 80 đến 100 tỷ USD.

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài này kết hợp với nguồn vốn trong nước và lực lượng lao động dồi dào với chi phí thấp, vừa thúc đẩy công nghiệp hóa đất nước, vừa biến Việt Nam thành công xưởng quan trọng và không thể thiếu của kinh tế thế giới. Mặt khác, nhà nước cũng hướng nguồn vốn này vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, tạo nền tảng cho thương mại và đô thị hóa nhanh chóng, đưa tỷ lệ dân thành thị từ khoảng 18% năm 1985 lên xấp xỉ 40% năm 2025.

Việc gia nhập nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới như ASEAN, APEC, ASEM, WTO… và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) đã tạo điều kiện để Việt Nam tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu năm 2025 gấp 700 lần năm 1986, trong khi thị trường nội địa hơn 100 triệu dân là động lực để thúc đẩy tiêu dùng. Ổn định chính trị và khả năng điều chỉnh chính sách nhanh và linh hoạt trước môi trường bất lợi đã giúp Việt Nam duy trì được quá trình tăng trưởng dài hạn ổn định.

Chính sự kết hợp hài hòa giữa đổi mới kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, duy trì tỷ lệ đầu tư cao, xây dựng kết cấu hạ tầng và tích hợp linh hoạt với môi trường toàn cầu hóa đầy biến động đã tạo nên những thành tựu tăng trưởng kinh tế đầy ấn tượng của Việt Nam trong 40 năm qua, đóng vai trò quyết định đưa Việt Nam từ một nước thuộc nhóm các quốc gia nghèo và kém phát triển nhất thế giới thành một cường quốc bậc trung trong hệ thống kinh tế thế giới, dự báo sẽ được xếp vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao ngay trong năm 2025.

2. Phân tích, dự báo các khả năng vươn mình hóa rồng của Việt Nam trong 20 năm tới (2026-2045)

2.1. Các tiêu chí để vươn mình hóa rồng

“Hóa rồng” là thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và một số quốc gia mới công nghiệp hóa thành công. Đây là những nước có quá trình công nghiệp hóa thần tốc và tăng trưởng kinh tế bứt phá trong giai đoạn những năm 1960–1990, đưa các nền kinh tế này từ nghèo nàn, lạc hậu trở thành các nền kinh tế công nghiệp hiện đại, có thu nhập cao.

Một số tiêu chí cơ bản được dùng để đánh giá một quốc gia trở thành rồng về mặt kinh tế là: (i) Duy trì được tỷ lệ tăng trưởng GDP khoảng 9%/năm trong 25–35 năm liên tục; (ii) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo rồi dịch vụ và trở thành quốc gia có công nghệ cao, trở thành trung tâm sản xuất, cung cấp dịch vụ và xuất khẩu toàn cầu; và (iii) GDP bình quân đầu người tăng vọt, vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình cao do Ngân hàng Thế giới xác định để chính thức được xếp vào nhóm các nước có thu nhập cao.

Theo các tiêu chí này, Nhật Bản đã hóa rồng vào năm 1973 nhờ duy trì được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trên 9%/năm trong suốt 23 năm (1950-1973), đưa đất nước thành căn cứ sản xuất công nghiệp hàng đầu thế giới. Singapore đã hóa rồng vào năm 1990 nhờ duy trì được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế 9%/năm trong suốt 25 năm (1965-1990), biến quốc đảo từ một làng chài nghèo thành một trung tâm tài chính và công nghiệp châu Á và thế giới. Hồng Kông đã hóa rồng vào năm 1985 nhờ duy trì được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình 8,8%/năm trong suốt 25 năm (1960-1985), đưa vùng đất này từ một thương cảng nhỏ bé thành một trung tâm tài chính toàn cầu. Đài Loan, bằng “Kỳ tích Đài Loan”, đã hóa rồng vào năm 1990 nhờ duy trì được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình 9%/năm trong suốt 30 năm (1960-1990), đưa hòn đảo xinh đẹp này từ chỗ hoang vu trở thành một trung tâm công nghiệp nhẹ, sau đó chuyển mình thành trung tâm điện tử và bán dẫn toàn cầu. Hàn Quốc, bằng “Kỳ tích sông Hàn”, đã hóa rồng vào năm 1996 nhờ duy trì được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình 9%/năm trong suốt 34 năm (1962-1996), đưa quốc gia này từ một nền kinh tế thuần nông trở thành một trung tâm công nghiệp hùng mạnh với nhiều tập đoàn kinh tế khổng lồ khuynh đảo thị trường thế giới như Samsung, Hyundai, LG…

Như vậy, để vươn mình hóa rồng chỉ trong vòng 20 năm (2025-2045), Việt Nam không có con đường nào khác ngoài cách phải theo hướng rồng bay, tức là phải duy trì được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thấp nhất cũng khoảng 9-10%/năm trong khoảng thời gian trên, đồng thời phải chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp và công nghiệp gia công, chế biến thành quốc gia có công nghệ cao, thể chế hiện đại, tinh thần sáng tạo thống trị, có thương cảng quốc tế hùng mạnh, cung cấp dịch vụ trung chuyển hàng hóa quốc tế và xuất khẩu toàn cầu.

Riêng với tiêu chí thu nhập bình quân đầu người, Ngân hàng Thế giới sử dụng chỉ tiêu Tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người. Đối với năm tài chính 2025, Ngân hàng Thế giới xếp một nền kinh tế vào nhóm nước có thu nhập cao khi có GNI/người trên 14.005 USD. Các quốc gia luôn luôn quan tâm, mong muốn được Ngân hàng Thế giới xếp nước mình ở nhóm nước có thu nhập cao để chứng tỏ sự phát triển kinh tế hiệu quả, vị thế của đất nước được nâng cao, làm cho tiếng nói của nước mình trên trường quốc tế được tôn trọng.

Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, GNI/người của Việt Nam năm 2025 khoảng 4.500 USD trong khi GDP/người khoảng 4.800 USD. Trong 10 năm gần đây, GNI/người của Việt Nam bằng khoảng 92-96% GDP/người vì Việt Nam thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài và lợi nhuận hàng năm của chúng bị chuyển ra nước ngoài; số thu nhập bị chuyển đi này lớn hơn dòng kiều hối được người Việt Nam sống ở nước ngoài chuyển về. Vì vậy, nếu như chuẩn giầu trong 20 năm tới không đổi (đời sống của người dân các năm 2025 và 2045 ngang nhau), thì để hóa rồng, GDP/người của Việt Nam phải vượt ngưỡng 14.900 USD vào năm 2045.

Trên thực tế, Ngân hàng Thế giới liên tục điều chỉnh chuẩn giầu theo hướng tăng lên để phản ánh tiêu chuẩn sống của người dân thế giới ngày một tăng lên. Phạm Minh Thụy (2025) sử dụng tỷ lệ tăng chuẩn thu nhập hàng năm là 3,47% để dự báo. Nếu sử dụng con số này, ngưỡng xác định quốc gia có thu nhập cao do Ngân hàng Thế giới công bố cho năm 2045 sẽ là 29.599 USD, tức khoảng 30.000 USD. Như vậy, để đến năm 2045 Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập cao thì GDP/người năm 2045 phải vượt qua mức 30.000 USD.

Về dân số, theo Bộ Y tế, với kịch bản tỷ lệ sinh tiếp tục giảm, đến năm 2039 Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng và sau năm 2054 dân số sẽ bắt đầu tăng trưởng âm. Theo Nguyễn Văn Phúc (2025), dự báo đến năm 2045 dân số nước ta là 115 triệu người. Theo phương pháp của Tổng cục Thống kê Việt Nam (2011) áp dụng cho các số liệu gần đây, dự báo đến năm 2045 dân số nước ta là 110 triệu người. Tuy nhiên, cũng có một số dự báo cho thấy dân số nước ta có thể đạt đỉnh sớm hơn, đến năm 2045 vào khoảng 108 triệu người.

Vì GDP năm 2025 của Việt Nam là 491 tỷ USD, dân số 102,3 triệu người, nên GDP/người là 4800 USD. Giả sử năm 2045, dân số nước ta là 110 triệu người. Khi đó để đạt chuẩn thu nhập 30.000 USD/người vào năm 2045 (theo giá USD năm 2025), GDP sẽ phải đạt 3300 tỷ USD, tức tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trong 20 năm tới phải đạt 10%/năm, chính xác bằng 2 con số như Tổng Bí thư Tô Lâm và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã đề ra.

2.2. Dự báo các khả năng vươn mình hóa rồng của Việt Nam

a) Mô hình tăng trưởng dài hạn

Để nghiên cứu tính khả thi của mục tiêu tăng trưởng dài hạn, trước tiên phải phân tích nhu cầu vốn và khả năng huy động các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu. Mặc dù có những điểm rất khác nhau về các nhân tố tăng trưởng ngắn hạn, nhưng hầu như tất cả các lý thuyết kinh tế đều thống nhất coi vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là nhân tố cơ bản xác định tỷ lệ tăng trưởng dài hạn.

Mô hình tăng trưởng dài hạn truyền thống gồm 4 phương trình cơ bản sau:

Y* - Y*(t-1) = k * I(t-1) (1)
Y(t) = C(t) + I(t) (2)
I(t) = s * Y*(t) (3)
C(t) = (1-s) * Y*(t) (4)

trong đó Y* là kết quả sản xuất tiềm năng, tức GDP dài hạn, tương ứng với sử dụng các nhân tố sản xuất theo đúng tiềm năng; Y là kết quả sản xuất thực tế; I là vốn đầu tư; C là tiêu dùng toàn xã hội; k là quan hệ giữa vốn và kết quả sản xuất. Từ công thức xác định k, có thể suy ra ICOR bằng 1/k; s là xu hướng đầu tư cận biên. Các hệ số k và s đều dương và nhỏ hơn đơn vị.

Trong mô hình trên, phương trình (1) phản ánh thay đổi khả năng sản xuất phụ thuộc vào đầu tư mới và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (k hay ICOR). Phương trình (2) phản ánh kết quả sản xuất thực tế, bằng tổng của tiêu dùng và đầu tư. Phương trình (3) giả định cầu đầu tư được xác định từ quy mô sản xuất. Phương trình (4) giả định cầu tiêu dùng là phần còn lại của kết quả sản xuất sau khi đã trừ phần được sử dụng để đầu tư.

Trong dài hạn, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thực tế sẽ tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tiềm năng; do vậy, Y* = Y. Bằng cách nhóm các phương trình, có thể giải ra phương trình xác định kết quả sản xuất như sau:

Y(t) = (1+k*s) * Y(t-1) (5)
hay: Y(t) / Y(t-1) = 1 + k*s (6)

Từ đây suy ra tỷ lệ tăng trưởng kinh tế g sẽ được xác định khi k và s được xác định; công thức xác định g như sau:

g = DY(t) / Y(t-1) = k*s = s / ICOR (7)

tức là về dài hạn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế sẽ bằng tỷ lệ đầu tư chia cho ICOR. Như vậy, để dự báo khả năng tăng trưởng dài hạn, chỉ cần dự báo tiến triển của các hệ số s và ICOR.

b) Dự báo s, ICOR và khả năng đạt được mục tiêu tăng trưởng dài hạn 10%/năm

Theo các số liệu quốc tế, trong 2-3 thập kỷ phấn đấu vươn mình thành rồng, các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaisia đã duy trì được tỷ lệ đầu tư trên GDP trong khoảng 30-35%; Đài Loan, Hồng Kông 25-30%; Singapore, Trung Quốc 35–40%... Riêng Trung Quốc trong giai đoạn 2000–2010 lên tới 45%. Nếu so với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế khoảng 8-10%/năm của những nước này thì có thể thấy ICOR trung bình của các nước khoảng 3-4. Nếu loại trừ một số năm khủng hoảng kinh tế do các nguyên nhân khách quan thì chỉ 2,5-3,5.

Trong mục 1.3, chúng ta đã chỉ rõ tỷ lệ đầu tư trên GDP ở nước ta liên tục được duy trì ở mức cao trong suốt 3 thập kỷ gần đây, trung bình 35,3% để đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế 7%/năm, từ đây suy ra ICOR bằng 5; năm 2025 cũng là 5. Như vậy so với các con rồng châu Á, tỷ lệ đầu tư của Việt Nam chỉ tương đối cao, nhưng ICOR ở mức rất cao, chứng tỏ hiệu quả đầu tư đã và đang rất thấp. Đáng mừng là theo hình 4, ICOR đang trong xu hướng giảm nhanh; nếu xu hướng này được duy trì dài hạn, thì đến năm 2030 ICOR sẽ giảm xuống còn 4,6; 2035 còn 4,3; 2040 còn 3,9 và năm 2045 còn 3,6; trung bình 20 năm tới khoảng 4,1. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1993), ICOR<3 được xem là hiệu quả sử dụng vốn cao; ICOR>4 bị xem là hiệu quả thấp. Như vậy, nếu theo xu hướng hiện nay, thì phải đến năm 2040, ICOR mới giảm xuống mức được coi là sử dụng vốn có hiệu quả.

Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm các nước nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một số kịch bản phải phấn đấu cải thiện tỷ lệ đầu tư trên GDP và ICOR để đạt được mục tiêu tăng trưởng dài hạn 10%/năm trong 20 năm tới như sau:

Kịch bản 1: Nếu hiệu quả đầu tư không được cải thiện, ICOR tiếp tục ở mức rất cao, trung bình là 5 trong suốt 20 năm tới; thì tỷ lệ đầu tư phải đạt 50%. Kịch bản này chắc chắn không phải là điều Tổng Bí thư Tô Lâm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và người dân mong muốn, và thực tế cũng khó có thể xảy ra vì ICOR và tỷ lệ đầu tư đều vượt quá khả năng chịu đựng của nền kinh tế.

Kịch bản 2: Nếu hiệu quả đầu tư được cải thiện, ICOR giảm xuống còn 4-4,5; thì tỷ lệ đầu tư phải đạt 40-45%, tức là cả hai chỉ tiêu này vẫn rất cao, thậm chí cao hơn so với dự báo xu thế. Kịch bản này chắc chắn cũng không phải là điều chúng ta mong muốn.

Kịch bản 3: Nếu ICOR giảm xuống còn 3,5-4; thì tỷ lệ đầu tư phải đạt 35-40%. Đây có lẽ là kịch bản khả thi nhất vì chỉ cần nâng cao hiệu quả đầu tư khoảng 10-15% so với xu thế và 25-30% so với năm 2025 để ICOR tương đương với cận trên của các con rồng châu Á, đồng thời tỷ lệ đầu tư tăng nhẹ, lên mức tương đương với Trung Quốc.

Kịch bản 4: Nếu hiệu quả đầu tư được cải thiện mạnh mẽ hơn, ICOR giảm xuống còn 3-3,5; tức tương đương với cận dưới các con rồng châu Á, thì tỷ lệ đầu tư chỉ cần đạt 30-35%, thấp hơn trung bình 40 năm qua. Đây là kịch bản chúng ta mong muốn nhất và hiệu quả nhất vì tỷ lệ đầu tư thấp hơn sẽ cho phép tăng tiêu dùng, cải thiện đời sống, và xuất khẩu, qua đó cũng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Căn cứ vào những phân tích, đánh giá thực tế tăng trưởng kinh tế nước ta trong 40 năm đổi mới vừa qua cùng với những xu hướng và quy luật vận động dài hạn rút ra được trình bày trong mục 1, có thể dự báo nền kinh tế nước ta hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng theo kịch bản 3. Nếu môi trường phát triển trong 2 thập kỷ tới thuận lợi hơn, các động lực tăng trưởng từ bên trong và từ bên ngoài được khai thác tốt hơn, tối ưu hơn, thì chúng ta cũng có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng với hiệu quả cao hơn theo kịch bản 4.

3. Định hướng chính sách để Việt Nam vươn mình hóa rồng

Năm 2045 đánh dấu tròn 100 năm Việt Nam giành được độc lập và cũng là thời điểm đất nước phải hóa rồng trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao. Nhiều quốc gia trong thế kỷ 20 đã hóa rồng thành công chỉ trong vòng 25-35 năm. Việt Nam trong thế kỷ 21, xuất phát là nước đã có thu nhập trung bình cao, bắt đầu vươn lên hóa rồng trong môi trường quốc tế thuận lợi, với cuộc cách mạng công nghệ thông tin đang bước vào giai đoạn bùng nổ và một nền kinh tế có tiềm lực vững vàng, thì không cần nhiều phép màu, mục tiêu hóa rồng trong 20 năm hoàn toàn có thể thực hiện được.

Vươn mình hóa rồng không phải là mơ ước viển vông nhưng cũng không phải là việc dễ dàng đạt được. Lịch sử đã chứng minh rất nhiều nước không thể vượt qua được bẫy thu nhập trung bình để vươn lên thành nước giầu. Malaysia, quốc gia từng có tỷ lệ đầu tư/GDP lên tới 44% và tăng trưởng 9%/năm trong thập niên 1990 nhưng đến nay vẫn “dậm chân” ở mức thu nhập trung bình cao. Nguyên nhân là do thiếu những cải cách thể chế cần thiết, năng suất lao động trì trệ, doanh nghiệp nội địa yếu kém và nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào vốn nước ngoài.

Việt Nam hôm nay đang đứng trước ngã ba lịch sử: hoặc tiếp tục tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ và vốn nước ngoài để rồi 20 năm nữa vẫn không thể hóa rồng; hoặc dũng cảm đổi mới thể chế với tầm nhìn dài hạn và huy động sự đồng lòng, quyết tâm của cả hệ thống, tất cả hướng vào mục tiêu “hóa rồng” như Tổng Bí thư Tô Lâm và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII kỳ vọng.

Để hóa rồng, lịch sử đã chứng minh chỉ lao động cần cù, vượt nắng thắng mưa không thua thời tiết, là chưa đủ, mà phải biết tăng trưởng đúng cách, tức là phải tăng trưởng có chất lượng. Đặc biệt, năng suất lao động phải cao và được duy trì dài hạn vì đây là thước đo cốt lõi của chất lượng tăng trưởng và cũng là điểm nghẽn chiến lược của Việt Nam. Với mức năng suất lao động chỉ bằng 1/3 Thái Lan, 1/4 Trung Quốc và 1/20 Singapore, Việt Nam đang đối mặt nguy cơ “bẫy thu nhập trung bình” khi chi phí lao động tăng nhanh nhưng giá trị gia tăng không theo kịp. Để “hóa rồng” vào năm 2045, Việt Nam cần một chiến lược tổng thể, dài hạn và đột phá nhằm nâng cao năng suất lao động trên ba khâu then chốt: con người, công nghệ và thể chế. Dưới đây xin kiến nghị sáu trụ cột chính sách dài hạn, hướng vào tăng năng suất lao động và thân thiện với môi trường, tạo thành một hệ thống mang tính đột phá, đồng bộ và bền vững cần được áp dụng trong 2 thập kỷ tới.

3.1. Đổi mới thể chế là nền tảng của mọi kỳ tích trên con đường hóa rồng

Không có quốc gia nào “hóa rồng” với một thể chế yếu kém, quan liêu, thiếu minh bạch. Hàn Quốc trong những năm 1960–1980 dù chế độ độc tài, nhưng xã hội rất kỷ luật, rất hiệu quả, và mọi hành vi tham nhũng đều bị trừng trị nghiêm khắc. Singapore có bộ máy hành chính tinh gọn, minh bạch, quản lý xã hội dựa trên công nghệ và thượng tôn pháp luật. Theo hướng rồng bay, trong thời đại ngày nay, chỉ có đổi mới thể chế Việt Nam mới có thể huy động đủ các nguồn vốn đầu tư phát triển, phát triển hệ thống doanh nghiệp và nâng cao năng suất lao động. Cần sớm minh bạch hóa mọi quy trình ra quyết định, nhất là trong cấp phép, đấu thầu. Xây dựng hệ thống tư pháp độc lập, bảo vệ quyền sở hữu và tôn trọng các hợp đồng để tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Phát triển chính phủ số, cắt giảm biên chế để nâng cao hiệu quả công vụ; loại bỏ cơ chế “xin – cho”, xóa bỏ đặc quyền, đặc lợi, nhất là đặc quyền, đặc lợi về đất đai và sử dụng ngân sách, xóa bỏ các loại doanh nghiệp sân sau để tạo sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế... Lãnh đạo và người dân phải luôn tâm niệm “Không có thể chế tốt thì mọi chính sách đều vô nghĩa”.

Cuối năm 2024 và đầu năm 2025, Bộ Chính trị đã ban hành bốn Nghị quyết được coi là "Bộ tứ trụ cột" về thể chế làm nền tảng và tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước ta tiến lên trong kỷ nguyên mới, gồm Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW về "Hội nhập quốc tế trong tình hình mới"; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Đây là những bước đi đầu tiên, rất cụ thể và rất đúng hướng, đáp ứng nhu cầu đổi mới thể chế cho 20 năm vươn mình hóa rồng sắp tới.

3.2. Huy động mạnh mẽ các nguồn vốn để đầu tư phát triển

Mở rộng các kênh huy động vốn ngoài ngân sách và tín dụng ngân hàng, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, minh bạch hóa thông tin, chuẩn hóa xếp hạng tín nhiệm. Thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn DNNN để thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Huy động vốn tư nhân đầu tư vào các lĩnh vực hạ tầng giao thông, năng lượng, y tế, giáo dục. Tiếp tục thu hút FDI nhưng tập trung vào FDI có chất lượng cao, công nghệ và quản trị tiên tiến; ưu đãi FDI có chuyển giao công nghệ, đào tạo lao động và liên kết với DN trong nước.

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, trước hết là vốn đầu tư công. Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; các dự án đầu tư được tuyển chọn và giám sát chặt. Thực hiện nguyên tắc “giải ngân theo kết quả”, tức chỉ giải ngân khi dự án đạt tiến độ và chất lượng. Công khai toàn bộ dự án đầu tư công, từ chủ trương đến quyết toán, trên Cổng công khai ngân sách. Ưu tiên vốn cho ngành, sản phẩm có hệ số ICOR thấp, khả năng lan tỏa cao, như công nghệ thông tin, năng lượng sạch, logistics. Loại bỏ dự án đầu tư để “trưng bày”, đầu tư theo “phong trào”, “xin – cho”. Tăng cường giám sát và trách nhiệm giải trình; áp dụng kiểm toán độc lập bắt buộc cho mọi dự án trên 500 tỷ đồng. Gắn trách nhiệm cá nhân người ra quyết định đầu tư với hiệu quả dự án, theo nguyên tắc “Ai quyết định dự án, người đó chịu trách nhiệm”.

3.3. Đầu tư vào con người, đặt giáo dục làm quốc sách hàng đầu và là cơ sở để tăng trưởng bền vững

Việt Nam đã chính thức bước vào kỷ nguyên suy giảm tốc độ tăng trưởng dân số và cũng sẽ sớm bước vào kỷ nguyên già hóa dân số. Nguồn lao động giá rẻ sẽ ngày càng cạn kiệt. Vì vậy, muốn tăng trưởng 10%/năm, con đường duy nhất là phải tăng năng suất; do đó bắt buộc phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Singapore là quốc đảo nhỏ bé, hoàn toàn không có tài nguyên thiên nhiên, không có nông nghiệp, nhưng họ đã “hóa rồng” nhờ một tài nguyên duy nhất: Con Người. Lý Quang Diệu, Thủ tướng Singapore trong 32 năm (1959-1990), sau đó làm cố vấn Chính phủ trong 21 năm (1990-2011), đồng thời làm Tổng Bí thư Đảng Hành động Nhân dân trong 38 năm (1954-1992) đã nói một câu bất hủ: “Tài nguyên duy nhất của Singapore là 3 triệu người và chúng tôi quyết tâm biến họ thành tài sản quý giá nhất”. Ông khẳng định “chỉ có giáo dục mới được cứu đất nước” và quyết định chi hơn 20% ngân sách nhà nước cho giáo dục trong suốt thời kỳ hóa rồng, đây là tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất châu Á lúc đó.

Hệ thống giáo dục của Singapore được định hướng theo năng lực và phân luồng theo nghề nghiệp rất sớm, ngay từ khi học sinh bước vào trung học cơ sở, giống như Thụy Sĩ. Loại 1 (Express Stream) là những học sinh có tư duy cao được hướng đại học, trở thành nguồn lao động có chất lượng cao. Loại 2 (Normal Academic/Technical) theo hướng học nghề và trở thành công nhân kỹ thuật. Chương trình học gắn với nhu cầu của thị trường lao động, học đi đôi với hành. Hiện nay, 65% lực lượng lao động Singapore được đào tạo nghề, đây là tỷ lệ cao nhất thế giới.

Bên cạnh đó, Singapore cũng đầu tư mạnh cho công tác đào tạo giáo viên, coi nghề giáo là nghề danh giá nhất, giáo viên được trả lương cao nhất. Kết quả sau hơn 60 năm, mọi chỉ tiêu phát triển của Singapore đều thuộc tốp đầu thế giới, ví dụ như Chỉ số Phát triển Con người (HDI), Xếp hạng giáo dục toàn cầu (PISA), Tỷ lệ lao động có kỹ năng cao, Năng suất lao động và GDP đầu người.

Hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay chủ yếu dạy và học lý thuyết, người lao động thiếu kỹ năng thực hành, tư duy phản biện và ngoại ngữ… Sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Theo hướng rồng bay, Việt Nam cần cải cách chương trình giáo dục theo hướng thực tiễn, học để làm, không học để thi. Xây dựng tư duy, phương pháp, nội dung giảng dạy và học theo các chuẩn mực quốc tế, ví dụ giống Singapore. Đầu tư mạnh mẽ cho hệ thống đào tạo nghề chất lượng cao gắn với doanh nghiệp. Xây dựng hệ thống đại học tự chủ gắn với doanh nghiệp và kiểm định quốc tế để đạt trình độ quốc tế và người lao động Việt Nam có thể làm việc toàn cầu. Xây dựng chính sách thu hút nhân tài toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực tiên phong như kinh tế tri thức, kinh tế số, công nghệ, tài chính, giáo dục, y tế.

3.4. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển từ “làm theo”, “làm thuê” sang “làm chủ”

“Làm theo”, “làm thuê” là làm ra tiền bằng sức lao động của bản thân thì không bao giờ giầu. Chỉ có “làm chủ”, tức là làm ra tiền bằng tiền (không có tiền nhưng xây dựng dự án rồi thuyết phục ngân hàng cho vay tiền để đầu tư) thì mới giầu. Cao hơn nữa là làm ra tiền bằng trí tuệ, bằng tư duy sáng tạo và đổi mới liên tục ở tốp đầu thế giới; điều này rất khó, rất ít nước đạt được.

Muốn tự mình làm chủ, tự mình làm ra tiền bằng tiền hay bằng trí tuệ thì phải liên tục đổi mới sáng tạo. Việt Nam đang chi 0,4–0,5% GDP cho nghiên cứu và phát triển (R&D) trong khi Hàn Quốc là 4,8%, Trung Quốc 2,4% và Thái Lan 1,6%. Hậu quả Việt Nam không thể đổi mới sáng tạo công nghệ, sau 40 năm đổi mới vẫn đang trong giai đoạn gia công, lắp ráp, làm theo và làm thuê theo công nghệ của nước ngoài.

Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và vươn mình hóa rồng trong thời đại công nghệ 4.0 và 5.0, Việt Nam cần tăng chi ngân sách cho R&D lên ít nhất 1,5-2% GDP trong 10 năm đầu (2026-2035) và 2,5-4% GDP trong 10 năm tiếp theo (2036-2045). Nguồn vốn đó cùng với các nguồn vốn ưu đãi khác cần sử dụng để xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, kết nối các cơ sở nghiên cứu, nhà trường, doanh nghiệp và các quỹ đầu tư. Ưu đãi thuế, hỗ trợ ngân sách và vốn mạo hiểm cho startup và các doanh nghiệp công nghệ, đổi mới sáng tạo. Thực hiện chuyển đổi số toàn diện: chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, làm sao để mọi nguồn lực của cả nước đều phải hướng vào đổi mới sáng tạo.

3.5. Phát triển doanh nghiệp trong nước, xây dựng các doanh nghiệp và hàng hóa, dịch vụ có thương hiệu nổi tiếng thế giới

Hiện nay khu vực tư nhân trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, rất thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu kỹ năng quản trị hiện đại. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có công nghệ và kỹ năng quản trị khá cao nhưng việc lan tỏa sang các doanh nghiệp trong nước rất yếu, làm cho khu vực doanh nghiệp trong nước rất khó phát triển.

Theo hướng rồng bay, Việt Nam cần phát triển mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp trong nước, phấn đấu trong 20 năm hóa rồng đưa nửa triệu doanh nghiệp tư nhân nhỏ bé hiện nay thành những doanh nghiệp tầm trung và lớn với công nghệ hiện đại mang tầm cỡ châu lục và thế giới. Khẩu hiệu xuyên suốt 20 năm tới là “Chỉ khi doanh nghiệp mạnh, thì nền kinh tế mới mạnh”.

Một số giải pháp chính sách cụ thể là phát triển và đa dạng hóa mạnh mẽ các thị trường vốn và quỹ đầu tư, nhất là đầu tư mạo hiểm và tín dụng xanh. Giảm mạnh, tiến tới xóa bảo các thủ tục hành chính đang là những rào cản không cho các doanh nghiệp gia nhập thị trường. Tăng cường hệ thống luật pháp và chính sách bảo vệ quyền kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, quyền sở hữu trí tuệ và các quyền lợi khác của doanh nghiệp. Xây dựng chính sách phát triển các doanh nghiệp và hàng hóa có thương hiệu nổi tiếng thế giới, hỗ trợ vốn ngân sách và các loại tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, cơ khí chính xác, năng lượng sạch, công nghệ sinh học... Phát triển liên kết giữa các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp lớn của các nước trong khu vực và thế giới, để học tập, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ nhau và hợp tác cùng nhau xây dựng, phát triển các chuỗi giá trị, làm chủ công đoạn thiết kế, sản xuất để tạo ra các thương hiệu toàn cầu...

3.6. Khẩn trương chuyển đổi từ kinh tế truyền thống dựa trên khai thác tài nguyên sang kinh tế xanh, sạch, thân thiện với môi trường

Biến đổi khí hậu không còn là chuyện xa xôi mà đang đe dọa trực tiếp đến Việt Nam, nhất là đồng bằng sông Cửu Long, nơi đóng góp tới 50% sản lượng lúa và 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Thế giới cũng đang đau đầu tìm cách đối phó với hiểm họa toàn cầu này. Tuy nhiên các chuyên gia đều khẳng định dù khó khăn, con người vẫn có thể vừa tăng trưởng kinh tế cao và vừa bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp. Singapore “hóa rồng” nhưng vẫn là thành phố xanh, sạch và phát triển bền vững nhất thế giới; đây là một minh chứng rõ ràng.

Hiện nay Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế đã áp dụng thuế carbon, tiêu chuẩn ESG, yêu cầu “xanh hóa” chuỗi cung ứng... Trong 20 năm tới, rất nhiều quy định mới về kinh tế xanh, sạch, thân thiện với môi trường và bền vững sẽ được thế giới tiếp tục ban hành. Nếu không sớm có giải pháp đối sách thích ứng, hàng hóa Việt Nam sẽ bị đánh thuế, bị cấm vận và mất thị trường.

Vì vậy, để đảm bảo phát triển bền vững và đạt được mục tiêu hóa rồng, Việt Nam cần phải hành động ngay và quyết liệt. Một số giải pháp chính sách cần làm ngay là đầu tư hạ tầng chống biến đổi khí hậu, tập trung xây dựng hệ thống đê điều, nước sạch và năng lượng tái tạo đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng và hiệu quả ngang tầm thế giới. Áp dụng thuế carbon, chứng nhận xanh, tiêu chuẩn ESG cho doanh nghiệp trong nước. Phát triển kinh tế tuần hoàn, bắt buộc các doanh nghiệp phải hợp tác để tái chế, tái sử dụng các loại rác và phế thải. Xây dựng các đạo luật về tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực vật chất quốc gia. Đặc biệt phải chú trọng phát triển các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người; đảm bảo tăng trưởng không đánh đổi bằng môi trường và công bằng xã hội.

4. Kết luận: Không bàn lùi, chỉ bàn làm, vươn mình “hóa rồng” phải bắt đầu từ hôm nay

“Rồng không tự nhiên sinh ra; Rồng phải do con người tạo nên”. Việt Nam muốn vươn mình hóa rồng nhưng chỉ có lòng yêu nước, nói mà không làm, thì sẽ không bao giờ hóa rồng.

Bài viết này nhìn lại chặng đường 4 thập kỷ đổi mới kinh tế vừa qua ở nước ta (1986-2025) để khẳng định đất nước đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn và đang trong xu thế đi lên, đặc biệt Việt Nam liên tục là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định nhất khu vực châu Á. Mặt khác, đất nước cũng không thiếu các tiềm năng phát triển dài hạn, nhất là tư duy đổi mới và sự linh hoạt trong hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, và tinh thần lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng liên tục đạt 2 con số để đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao là hoàn toàn có thể đạt được.

Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ mang tính bước ngoặt: hoặc tiếp tục tăng trưởng theo mô hình truyền thống dựa vào lao động giá rẻ, huy động vốn đầu tư nước ngoài và gia công lắp ráp cho nước ngoài; chất lượng và hiệu quả tăng trưởng thấp, để đối mặt với nguy cơ sa vào “bẫy thu nhập trung bình”; hoặc dũng cảm thực hiện những cải cách có tính đột phá, đồng bộ và hệ thống để chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang dựa vào năng suất, đổi mới sáng tạo, thể chế hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Do đó, để hiện thực hóa mục tiêu vươn mình hóa rồng mà Tổng Bí thư Tô Lâm và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra, bài nghiên cứu này đề xuất sáu trụ cột chính sách then chốt, mang tính đột phá và đồng bộ, gồm: Cải cách thể chế để minh bạch hóa, hiện đại hóa bộ máy nhà nước, nâng cao hiệu lực pháp quyền, chống tham nhũng và đặc quyền đặc lợi, thu hút đầu tư chất lượng cao. Huy động mạnh mẽ các nguồn vốn để đầu tư phát triển. Đầu tư mạnh mẽ và toàn diện vào con người, biến nguồn nhân lực thành lợi thế cạnh tranh bền vững. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, ứng dụng AI và công nghệ tiên phong trong mọi ngành để tạo ra các động lực tăng trưởng mới. Phát triển mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp trong nước, xây dựng các doanh nghiệp và hàng hóa, dịch vụ có thương hiệu nổi tiếng thế giới. Khẩn trương chuyển đổi từ kinh tế truyền thống dựa trên khai thác tài nguyên sang kinh tế xanh, sạch, thân thiện với môi trường và bền vững.

Sáu trụ cột này không phải là lựa chọn mà là những điều kiện cần dù chưa đủ để Việt Nam chấm dứt mô hình tăng trưởng cũ, chính thức vươn lên trong hành trình hóa rồng. Chúng cần được tổ chức thực hiện đồng bộ, kiên trì và có lộ trình rõ ràng để đạt được những mục tiêu trung gian vào các năm 2030, 2035, 2040 và hóa rồng vào năm 2045. Thành công hay thất bại trong hành trình hóa rồng không phụ thuộc vào may rủi, mà vào ý chí chính trị, sự đồng lòng và quyết tâm thực hiện của cả hệ thống chính trị cũng như tinh thần lao động, học tập, đổi mới và sáng tạo không ngừng của mỗi người dân.

Năm 2045 không còn xa; 20 năm sẽ trôi qua rất nhanh. Hãy bắt đầu hành trình vươn mình hóa rồng ngay hôm nay để đến năm 2045, chúng ta không chỉ hân hoan kỷ niệm 100 năm ngày Quốc khánh, mà còn có quyền tự hào tuyên bố trước toàn thể nhân dân thế giới: Việt Nam đã chính thức hóa rồng, chính thức trở thành quốc gia hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc.
---------------------------

Tài liệu tham khảo chính:

1. ADB (Asian Development Bank). (2023). Asian Economic Integration Report 2023: Climbing the Global Value Chain. Manila: ADB Publications.

2. Diễn văn của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, https://www.qdnd.vn/80-nam-cach-mang-thang-tam-va-quoc-khanh-2-9/dien-van-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-le-ky-niem-80-nam-cach-mang-thang-tam-thanh-cong-va-quoc-khanh-nuoc-cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-844376

3. Katz, Richard (1998). Japan, the System that Soured: The Rise and Fall of the Japanese Economic Miracle. New York: M. E. Sharpe

4. Lý Quang Diệu. (2000). Từ thế giới thứ ba lên thứ nhất: Câu chuyện Singapore. (Người dịch: Nguyễn Trung Nghĩa). Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.

5. Nguyễn Văn Phúc (2025), Việt Nam nên có bao nhiêu tỉnh, thành là phù hợp? https://tienphong.vn/viet-nam-nen-co-bao-nhieu-tinh-thanh-la-phu-hop-post1723381.tpo

6. Phạm Minh Thụy (2025). Phân nhóm quốc gia theo thu nhập và xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế Việt Nam, https://vneconomy.vn/phan-nhom-quoc-gia-theo-thu-nhap-va-xac-dinh-muc-tieu-tang-truong-kinh-te-viet-nam.htm

7. Studwell, J. (2013). How Asia works: Success and failure in the world’s most dynamic region. Grove Press.

8. Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), Niên giám thống kê các năm

9. Tổng cục Thống kê Việt Nam (2011), Dự báo dân số Việt Nam 2009 – 2049, https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2019/03/Du-bao-dan-so.pdf

10. Trung ương Đảng thống nhất mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030, https://mekongasean.vn/trung-uong-dang-thong-nhat-muc-tieu-tang-truong-2-con-so-giai-doan-2026-2030-37808.html

11. Võ Thu (2025) Dân số Việt Nam sẽ bắt đầu tăng trưởng âm sau 3 thập kỷ nếu giữ đà mức sinh thấp, https://vietnamnet.vn/dan-so-viet-nam-se-bat-dau-tang-truong-am-sau-3-thap-ky-neu-giu-da-muc-sinh-thap-2376798.html

12. World Bank (2024) World Development Indicators (WDI). https://data.worldbank.org

13. World Bank (1993). The East Asian Miracle: Economic Growth and Public Policy. Oxford University Press.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét