Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026

Tại sao sinh viên cao học nên học tiến sĩ ở nước ngoài

Tại sao tôi thường khuyên các sinh viên cao học đừng học tiến sĩ trong nước mà hãy ra nước ngoài
Quan điểm của tôi là không phải đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam hiện nay không đủ tốt, mà là việc đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài có hệ thống hơn, khoa học hơn, nghiêm túc hơn nên tốt hơn ở Việt Nam. 
Trong một lĩnh vực cụ thể, ở các nước công nghiệp phát triển, nhà trường có nhiều giáo sư rất giỏi trong lĩnh vực của họ, vì vậy việc đào tạo sinh viên rất toàn diện và tiến sĩ rất chuyên sâu. 

Trong khi đó ở Việt Nam, một trường đại học thường chỉ có một vài giáo sư xuất sắc, môi trường học thuật thiếu nghiêm túc, tài liệu nghiên cứu bằng giấy rất ít; tài liệu qua mạng nhiều nhưng chất lượng không tốt.... Những điều đó không tạo nên một phương pháp tiếp cận có hệ thống và một môi trường kích thích nghiên cứu khoa học.

Lời khuyên của tôi không chỉ là một lời khuyên thực tế qua chính kinh nghiệm học tập và hướng dẫn nghiên cứu sinh thạc sĩ, tiến sĩ của tôi, mà còn phản ánh trực diện những "nút thắt thể chế" và khoảng cách nội tại của nền học thuật Việt Nam so với thế giới. Để chứng minh và làm rộng đường thảo luận, chúng ta có thể phân tích vấn đề này qua 4 chiều kích lớn dưới đây:

1. Hệ sinh thái học thuật: Sức mạnh của "Bầy đàn" đối nghịch với sự "Cô độc" của cá nhân

Môi trường học thuật ở Việt Nam có một điểm rất chí mạng: Ở Việt Nam, một trường đại học thường chỉ có một hoặc hai giáo sư xuất sắc, trong khi nước ngoài có cả một hệ thống.

- Hiệu ứng tích tụ (Agglomeration Effect): Tại các đại học nghiên cứu hàng đầu thế giới (như hệ thống Ivy League, Oxbridge, hay các trường top đầu tại châu Âu, Nhật Bản, Singapore), một khoa/viện luôn sở hữu một "quần thể" các nhà khoa học đầu ngành hoạt động trong cùng một lĩnh vực hoặc các lĩnh vực giao thoa. Quần thể đó không chỉ gồm các giảng viên ở khoa/viện mà còn gồm rất nhiều nhà khoa học xuất sắc ở nước ngoài làm cộng tác viên cho khoa/viện.

- Môi trường phản biện đa chiều: Khi làm tiến sĩ ở nước ngoài, một nghiên cứu sinh (NCS) không chỉ được học từ một người hướng dẫn (Advisor). Họ được rèn giũa bởi một Hội đồng luận án (Thesis Committee) gồm 3–5 giáo sư có nhiều góc nhìn khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Điều này buộc NCS phải tư duy độc lập, bảo vệ quan điểm và hoàn thiện lý thuyết của mình một cách khắt khe nhất.

Trong khi đó môi trường ở Việt Nam là sự cô độc học thuật. Tại Việt Nam, do thiếu hụt nhân lực trình độ cao ở các chuyên ngành hẹp, người thầy giỏi thường phải "độc hành" trong suốt chặng đường hướng dẫn nghiên cứu sinh. Học trò của họ thiếu môi trường tranh luận học thuật (seminar) hàng tuần đúng nghĩa, nơi các ý tưởng bị "mổ xẻ" không khoan nhượng nhưng đầy tính xây dựng giúp cho NCS trưởng thành rất nhanh trên con đường học thuật.

2. Khoảng cách khổng lồ về hạ tầng thông tin và "Vốn tài liệu"

Nghiên cứu khoa học là phải đứng trên vai những người khổng lồ để học họ và phát triển những khoảng trống họ chưa làm. Họ là những nhà khoa học đi trước với hạ tầng thông tin và "vốn tài liệu" khổng lồ. Những thông tin hay nhất, tốt nhất, được coi là bí quyết nhà nghề đặc thù chỉ mình họ có và là công cụ để họ kiếm sống, nên thường không được họ viết trong sách xuất bản, chỉ qua trao đổi trực tiếp hay tham gia các seminar với họ, chúng ta mới có thể chộp được và đem sử dụng. Một khả năng khác là bỏ tiền mua kiến thức của họ giống như mua bằng phát minh sáng chế.

Nhưng dù sao được 
đọc sách xuất bản của họ cũng là điều rất tốt. Đáng tiếc tài liệu nghiên cứu của nước ngoài bằng giấy ở Việt Nam rất ít, tài liệu trên mạng nhiều nhưng chất lượng thường không tốt, vì trên mạng chỉ có những thứ rẻ tiền. Đây là thực trạng nghèo nàn về tài nguyên nghiên cứu trong nước đối với NCS.

Bức tường thanh toán (Paywall) và Bản quyền: Để tiếp cận các công bố khoa học mới nhất trên các tạp chí thuộc danh mục Q1 (Nature, Science, Elsevier, Springer...), các trường đại học phải trả cả triệu USD phí bản quyền hàng năm. Hầu hết các trường đại học Việt Nam chưa đủ ngân sách để mua quyền truy cập toàn diện này. NCS trong nước thường phải dùng các thủ thuật "vượt rào" hoặc xin tài liệu từ bạn bè nước ngoài, một sự hạn chế cực kỳ lớn về mặt tiếp cận tri thức.

Ngược lại, khi học ở các trường đại học lớn trên thế giới, NCS có quyền truy cập không giới hạn vào các cơ sở dữ liệu học thuật đắt đỏ (Elsevier, JSTOR, NBER, Bloomberg, WRDS...). Điều đó giúp NCS dễ dàng chọn được những đề tài phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và không bị trùng lặp với các nghiên cứu đã có.

Hạ tầng thực nghiệm: Đối với các ngành STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học), phòng thí nghiệm và máy móc là "hơi thở". Việc thiếu trang thiết bị hiện đại khiến NCS trong nước chỉ có thể làm các nghiên cứu mô phỏng (simulation) hoặc các đề tài mang tính ứng dụng bề nổi, rất khó chen chân vào các nghiên cứu lý thuyết lõi hoặc công nghệ tiên phong.

3. Bản chất của đào tạo Tiến sĩ: Học "Phương pháp luận" và "Tư duy hệ thống"

Đối với tôi, du học không phải là học kiến thức cụ thể; mà du học chủ yếu là để học lý thuyết lõi và học cách tư duy hệ thống. Về mặt này, đào tạo ở nước ngoài có hệ thống hơn, khoa học hơn, nghiêm túc hơn ở nước ta.

Khóa học bắt buộc (Coursework) khắt khe: Ở các nước phát triển (đặc biệt là Mỹ), 2 năm đầu của chương trình PhD là dành để học các môn học cốt lõi (Core courses) và vượt qua kỳ thi sát hạch toàn diện (Qualifying Exam). Giai đoạn này xây dựng một nền tảng lý thuyết cực kỳ vững chắc và phương pháp luận (methodology) chuẩn chỉ.

Trong giai đoạn này, các NCS phải tham gia các seminar hàng tuần, các hội thảo chuyên sâu, nơi mọi giả thuyết, ý kiến của họ đều bị soi xét và phản biện (peer-review) một cách nghiêm khắc. Ở trong nước, thiếu sự phản biện đa chiều, kết quả nghiên cứu dễ mang tính chủ quan, thiếu tính tổng quát và khó đạt chuẩn quốc tế

Tình trạng "đốt cháy giai đoạn" ở trong nước: Ở Việt Nam, chương trình tiến sĩ thường đi thẳng vào làm đề tài nghiên cứu mà thiếu đi một chương trình coursework đủ chất lượng để trang bị nền tảng lý thuyết sâu sắc. Hệ quả là nhiều tiến sĩ trong nước rất giỏi giải quyết các bài toán kỹ thuật cụ thể (mang tính chất của một kỹ sư bậc cao, cứ sử dụng công cụ đã học để giải quyết là xong), nhưng lại thiếu khả năng khái quát hóa thành lý thuyết mới hoặc xây dựng mô hình hệ thống và áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau.

4. Văn hóa học thuật và Áp lực cơm áo gạo tiền

Môi trường nước ngoài tạo ra áp lực "publish or perish" (công bố hoặc là biến mất) rất khắc nghiệt buộc sinh viên phải tạo ra tri thức mới có giá trị. Trong khi đó, môi trường trong nước đôi khi còn nặng về hình thức, chạy theo số lượng bài báo mà chưa chú trọng đủ vào chất lượng và tính đóng góp thực sự cho kho tàng tri thức nhân loại.

Một môi trường nghiên cứu tốt không chỉ cần tiền, mà cần một văn hóa học thuật liêm chính và tự do.

Tính nghiêm túc và đạo đức khoa học: Ở nước ngoài, các hành vi đạo văn (plagiarism), xào nấu số liệu, hay "đứng tên chung" một cách vô lý bị trừng phạt cực kỳ nghiêm khắc, có thể hủy hoại cả sự nghiệp của một NCS và cả giáo sư hướng dẫn. Tại Việt Nam, cơ chế kiểm soát đạo đức khoa học và tính nghiêm túc trong nghiệm thu đề tài thường lỏng lẻo, bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ cá nhân ("nể nang").

Cơ chế tài trợ (Funding): NCS nước ngoài thường nhận được học bổng toàn phần (Fellowship) hoặc lương trợ lý nghiên cứu (RA/TA) đủ để họ sống và toàn tâm toàn ý cho nghiên cứu mà không phải lo nghĩ việc mưu sinh. Ngược lại, NCS tại Việt Nam hầu hết phải "vừa làm vừa học", ban ngày đi dạy hoặc làm việc ở sở, ban đêm viết luận án. Sự phân tâm này triệt tiêu khả năng bứt phá để tạo ra các công trình nghiên cứu khoa học xuất sắc.

Kết luận

Quyết định khuyên học trò ra nước ngoài không hề phủ nhận nỗ lực của những người thầy đang giảng dạy và cống hiến cho khoa học nước nhà. Ngược lại, đó là một quyết định trách nhiệm, xuất phát từ lương tâm và có tầm nhìn xa để nâng tầm của NCS lên cao hơn so với đào tạo trong nước.

Muốn các NCS bay cao, bay xa và sau này quay trở lại phụng sự đất nước hoặc kết nối đưa nền khoa học Việt Nam đi lên, thì trước hết phải ném họ vào những vùng biển lớn, nơi có những cơn sóng lý thuyết dữ dội nhất và những người hoa tiêu xuất sắc nhất thế giới hướng dẫn, thì họ mới phát triển được.

Về phía người thầy, bản thân tôi đã hướng dẫn nhiều NCS thạc sĩ và tiến sĩ, tôi luôn cho rằng chất lượng của một người thầy không chỉ đo bằng số lượng học trò đã tốt nghiệp, mà quan trọng hơn, là phải bằng việc học trò của mình có vươn ra được tầm vóc thế giới hay không.

Tôi thường khuyên các học trò và đồng nghiệp trẻ của tôi nên tích cực tham gia các hội thảo khoa học quốc tế, ở đó cố gắng làm quen rồi kết bạn với những giáo sư nổi tiếng thế giới, thậm chí cả những giáo sư đã được tặng giải thưởng Nobel, họ sẽ giúp đỡ bạn rất nhiều nếu bạn thực sự có năng lực và cố gắng lao động hết mình.

PS. Tôi thử tìm thông tin về một nghiên cứu sinh tôi đã hướng dẫn, nhưng lâu rồi, google bảo "Hệ thống website cũ của Học viện Khoa học Xã hội nâng cấp cấu trúc liên kết nội bộ, dẫn đến việc các link tìm kiếm tin tức từ năm 2011 bị lưu trữ (archive) hoặc thay đổi đường dẫn (URL chết)" nên không tìm được. 

Nó cũng bảo: "Dù các link tin tức cũ không còn truy cập được công khai, dữ liệu học thuật về sự kiện bảo vệ thành công luận án này vào tháng 10/2011 vẫn là một minh chứng thực tế cho sự hướng dẫn của Thầy"....

Nó cũng bảo: "Toàn bộ biên bản khoa học, danh sách 7 thành viên Hội đồng (đứng đầu là Chủ tịch HĐ PGS.TS Trần Đình Thiên) và kết quả bỏ phiếu xuất sắc 7/7 của NCS Lương Thu Thủy vẫn được ghi nhận đầy đủ trong hệ thống quản lý luận án quốc gia, ví dụ như tại Thư viện Quốc gia Việt Nam; xem theo đường link dưới đây".

http://luanan.nlv.gov.vn/luanan?a=d&d=TTcFfqzKAmSy2011.1.1&e=-------vi-20--1--txt-txIN%7ctxME-------#

Tôi đành chụp vài cái ảnh dưới đây để minh họa.

 Dưới sự hướng dẫn của TS Lê Việt Đức và PGS.TS Công Văn Dị, nghiên cứu sinh Lương Thu Thủy đã bảo vệ thành công Luận án tiến sĩ Kinh tế, chuyên ngành: Kinh tế phát triển, mã số: 62.31.05.01 với đề tài: “Phát triển kết cấu hạ tầng kĩ thuật trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế” tại Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ cấp Học viện, Học viện Khoa học Xã hội, số 477, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội ngày 03 tháng 10 năm 2011.
           Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung khoa học của luận án được thể hiện trong 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương 2: Thực trạng phát triển kết cấu hạ tầng kĩ thuật trên địa bàn tỉnh Sơn La thời gian qua.
Chương 3: Định hướng và giải pháp thúc đẩy sự phát triển của kết cấu hạ kĩ thuật trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
           Sơn La là một tỉnh nằm ở vùng Tây Bắc bộ - một trong những vùng kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nhưng có vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc của Tổ quốc.  Sơn  La là một tỉnh miền núi có địa hình phức tạp, đa dân tộc, cư dân sống rải rác, trình độ dân trí thấp, điều kiện kinh tế hạn hẹp… Một trong những khó khăn lớn nhất của Sơn La là kết cấu hạ tầng kĩ thuật vẫn còn nhiều bất cập,  chưa đáp ứng được những yêu cầu của quá trình phát triển. Đây là hạn chế đòi hỏi phải được nhanh chóng khắc phục nhằm tạo tiền đề cần thiết cho việc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trên địa bàn tỉnh, góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của vùng Tây Bắc nói riêng, của cả nước nói chung.
           Phát triển kết cấu hạ tầng là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các quốc gia trên thế giới, Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng kĩ thuật của tỉnh Sơn La trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả luận án mong muốn qua nghiên cứu phát triển về mặt lí luận và thực trạng phát triển kết cấu hạ tầng của tỉnh, tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân, từ đó đề ra những giải pháp mang tính đột phá trong quá trình xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, tạo tiền đề đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở tỉnh Sơn La.
          Để thực hiện mục tiêu trên, phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung chủ yếu vào năm lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế là: Giao thông, điện, viễn thông, thủy lợi, và nước sạch. Luận án cũng tập trung nghiên cứu các chính sách và giải pháp thúc đẩy sự phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế của Việt Nam, trong đó có các chính sách cho khu vực nông thôn miền núi từ năm 2000 trở lại đây.
          Tác giả luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù và khoa học, phù hợp với chuyên ngành nghiên cứu như: Thống kê, phân tích, đánh giá, tổng hợp, so sánh, theo cách tiếp cận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nhằm cho phép tiếp cận nhanh, chính xác đối tượng nghiên cứu.
            Với hướng nghiên cứu trên, luận án đã có những đóng góp mới như: đây là nghiên cứu đầu tiên, chuyên sâu và toàn diện về đặc thù và kết cấu hạ tầng kinh tế trên địa bàn tỉnh Sơn La; đánh giá một cách toàn diện tác động của phát triển kết cấu hạ tầng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nói riêng, đặc biệt luận án đã đánh giá được những tác động tiêu cực của phát triển kết cấu hạ tầng kĩ thuật đến sự ổn định đời sống nhân dân và môi trường trên địa bàn tỉnh. Luận án cũng đưa ra được những đề xuất về quan điểm định hướng và các giải pháp có tính khả thi đối với phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế trên địa bàn tỉnh Sơn La, các giải pháp đề xuất đều tính đến điều kiện đặc thù về tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh nhà nhằm định hướng phát triển bền vững.
           Hội đồng gồm 7 thành viên: PGS.TS Trần Đình Thiên (Chủ tịch HĐ), GS.TS Nguyễn Quang Thuấn (Phản biện 1), PGS.TS Ngô Quang Minh (Phản biện 2), PGS.TS Phan Sỹ Mẫn (Phản biện 3), TS. Trần Thị Minh Yến  (Thư kí HĐ), PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh (Uỷ viên HĐ), TS. Nguyễn Anh Tuấn (Ủy viên HĐ).
             Luận án đã được 7/7 phiếu thông qua, trong đó có 4/7 phiếu đánh giá ở mức xuất sắc.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét