Thứ Tư, 15 tháng 7, 2026

Trung Quốc: 85.000 hồ chứa đang gióng lên hồi chuông cảnh báo

Trung Quốc: 85.000 hồ chứa tuổi thọ hơn 50 năm đang gióng lên hồi chuông cảnh báo
Báo Trung Quốc đưa tin trong nửa đầu tháng 7, những trận mưa lớn kéo dài do bão "Maysak" (bão số 1 năm 2026 ở VN, bão số 10 ở Trung Quốc) gây ra đã dẫn đến tình trạng nguy hiểm nghiêm trọng tại các hồ chứa ở Quảng Tây. Sáng ngày 6 tháng 7, hồ chứa nước quy mô trung bình Lục Lam, công trình được xây dựng từ năm 1960, đã bị tràn đê tạo thành vết nứt lớn, mái đập bị sạt lở, nước trong hồ tràn xuống vùng hạ du như thác đổ.

Thảm họa này một lần nữa thu hút sự chú ý của dư luận hướng về những công trình thủy lợi quy mô vừa và nhỏ vốn ngày thường rất lặng lẽ, nhưng thực tế đã vận hành suốt hàng chục năm qua. Từ trường hợp của Trung Quốc, chúng ta nghĩ gì về Việt Nam khi mùa mưa bão bắt đầu tới ? Việt Nam có bao nhiêu hồ chứa nước được coi là cao tuổi, chất lượng đã không còn đảm bảo an toàn tuyệt đối ? Liệu chúng có tiềm ẩn những rủi ro tương tự như ở Trung Quốc ? Nếu đập ở Trung Quốc bất ngờ bị vỡ, nước tràn xuống Việt Nam thì sao ? Chúng ta nên rút ra những bài học gì từ trường hợp Trung Quốc ?

Dưới đây là một bài báo trên mạng Trung Quốc, tôi đăng để các bạn tham khảo.
-------------------------

1. Mạng lưới dày đặc: "Nền móng thủy lợi" được cấu thành từ các hồ chứa vừa và nhỏ

Khi nói về sự nghiệp thủy lợi của Trung Quốc, trước hết cần nhìn nhận một sự thật cơ bản: Công cuộc xây dựng thủy lợi của Trung Quốc, đặc biệt là xây dựng hồ chứa, là một kỳ tích kỹ thuật hiếm có trong lịch sử nhân loại.

Những ngày đầu thành lập nước Trung Hoa mới, cả nước có hơn 1.200 hồ chứa nước. Con số này nghe có vẻ nhiều, nhưng đặt trong một vùng lãnh thổ rộng lớn thì thực tế lại cực kỳ ít; dù là hỗ trợ sản xuất công nông nghiệp hay phòng chống, giảm nhẹ thiên tai đều rất khó phát huy hiệu quả. Năm 1949, đất nước xảy ra thiên tai lũ lụt trên diện rộng, 354 huyện thị thuộc hơn 20 tỉnh với 44,5 triệu người bị ảnh hưởng, trong đó vùng hạ lưu sông Trường Giang và Tây Giang thuộc lưu vực sông Châu Giang chịu tổn thất nặng nề nhất. Chính trong bối cảnh đó, mục tiêu "Xây dựng thủy lợi, phòng lụt chống hạn" đã được Hội nghị toàn thể lần thứ nhất của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc đưa vào "Cương lĩnh chung".

Công cuộc xây dựng thủy lợi sau đó đã được triển khai cấp tốc. Gắn liền với những lời kêu gọi vĩ đại như "Nhất định phải trị tốt sông Hoài", "Phải làm tốt các công việc ở sông Hoàng Hà", trong giai đoạn từ năm 1949 đến năm 1957, cả nước đã xây mới 1.079 hồ chứa lớn, vừa và nhỏ. Số lượng hồ chứa quy mô lớn và trung bình được xây mới đã vượt xa thời kỳ trước đó, nhưng đây mới chỉ là sự khởi đầu. Giai đoạn từ năm 1958 đến năm 1965 chứng kiến sự "bùng nổ" về xây dựng hồ chứa, trong vòng 8 năm đã xây mới 45.410 hồ, và hồ chứa Lục Lam nêu trên chính là thực thể được ra đời trong thời kỳ này. Tính đến cuối năm 1976, số lượng hồ chứa trên cả nước đã đạt hơn 85.400 ngôi, gấp 70 lần so với trước khi thành lập nước.

Trong vòng chưa đầy 30 năm, bất kể là về loại hình, số lượng hồ chứa hay số lượng đập cao đều đã có những thay đổi chấn động, đảo ngược hoàn toàn tình trạng nền tảng thủy lợi yếu kém của Trung Quốc cũ. Theo Niên giám Thống kê Phát triển Thủy lợi Toàn quốc năm 2023, Trung Quốc đã xây dựng được 94.877 hồ chứa các loại. Có thể nói rằng, công cuộc xây dựng trong 30 năm đầu lập quốc đã đặt nền móng cơ bản cho hệ thống công trình thủy lợi của Trung Quốc.

Đáng chú ý là trong đại gia đình hồ chứa khổng lồ này, những công trình thủy lợi quy mô lớn thường quen mặt gọi tên thực chất chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Trong số hơn 85.000 hồ chứa được xây dựng trước năm 1976, các hồ chứa quy mô nhỏ chiếm tới hơn 90%, trong khi hồ chứa lớn chiếm chưa đầy 1%. Mặc dù các hồ chứa nhỏ có dung tích đơn thể thấp, nhưng chúng phân bố rộng khắp các vùng nông thôn trên cả nước, đóng vai trò nền tảng không thể thay thế trong việc tích trữ lũ, tưới tiêu nông nghiệp, và nhiều công trình cho đến nay vẫn là sự bảo đảm quan trọng cho việc ổn định sản lượng nông nghiệp.
Tuy nhiên, trên đời không có công trình nào hoàn hảo vô khuyết, huống chi đây lại là sản phẩm của 50 - 60 năm trước. Những di sản thủy lợi này trong khi liên tục mang lại lợi ích thì các rủi ro và hiểm họa tiềm ẩn của chúng cũng là điều không thể tránh khỏi.

2. Cái giá đắt đỏ: Thành tựu đi liền với thất bại và bài học xương máu

Trong "thời kỳ bùng nổ" xây dựng thủy lợi từ năm 1958 đến năm 1965, tốc độ xây dựng công trình thủy lợi của Trung Quốc có thể nói là chưa từng có tiền lệ. Trong vòng 8 năm, cả nước đã xây dựng 45.410 hồ chứa, riêng hồ chứa lớn đã đạt 210, bao gồm các công trình nổi tiếng như hồ chứa Mật Vân, hồ chứa Tân An Giang. Thành tựu như vậy đáng được ghi vào sử sách, nhưng không thể phủ nhận rằng, tốc độ này cũng gắn liền với bối cảnh thời đại mang tính phong trào của cuộc "Đại nhảy vọt". Chịu ảnh hưởng của các điều kiện lịch sử đặc thù, không ít công trình tồn tại vấn đề quy hoạch bất hợp lý, thi công không đạt chuẩn, thậm chí xuất hiện phương thức "ba cùng lúc": "vừa khảo sát, vừa thiết kế, vừa thi công". Những công trình được đưa vào vận hành một cách vội vã này đã phải trả giá đắt trong quá trình vận hành về sau.

Lấy ví dụ về ngành thủy lợi Quảng Tây vốn đang được dư luận quan tâm hiện nay: Công trình thủy điện Chiêu Bình được khởi công xây dựng vào năm 1958 khi quy hoạch dòng sông còn chưa hoàn thành. Quy hoạch và thiết kế của công trình này tồn tại sai sót nghiêm trọng, đặc biệt là tổn thất do ngập lụt quá lớn, bao gồm cả hai huyện lỵ Dương Sóc và Bình Lạc, trong đó có khu danh thắng Dương Sóc nổi tiếng khắp cả nước. Công trình này đã phải dừng lại và hủy bỏ vào năm 1961, gây tổn thất kinh tế hơn 23 triệu Nhân dân tệ (giá lúc đó).

Một ví dụ khác là nhà thủy điện Hạ Kiều, bài học thất bại của công trình này mang đậm sắc thái thời đại hơn. Trong những năm tháng đặc biệt đó, phương pháp "vừa khảo sát, vừa thiết kế, vừa thi công" đã được áp dụng, cuối cùng việc thi công bị mắc kẹt do các vấn đề địa chất như rò rỉ biểu hiện địa hình karst. Công trình buộc phải dừng thi công vào năm 1972, sau đó phương án đập cao phải đổi thành đập thấp, gây tổn thất kinh tế 17 triệu Nhân dân tệ. 

Những trường hợp thất bại tương tự không chỉ xuất hiện ở Quảng Tây, mà công trình được biết đến rộng rãi nhất thời bấy giờ chính là hồ chứa Tam Môn Hiệp. Là công trình trọng điểm trong việc trị lý sông Hoàng Hà, quyết định thời bấy giờ đã phớt lờ các ý kiến phản đối dựa trên quy luật bùn cát của sông Hoàng Hà. Sau khi hồ chứa tích nước, bùn cát nhanh chóng bồi lắng, lòng sông Vị Hà bị nâng cao tạo thành "sông treo", gây ra hậu quả sinh thái nghiêm trọng. Công trình Tam Môn Hiệp buộc phải tiến hành cải tạo hai lần vào thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, trở thành một bài học đắt giá trong lịch sử thủy lợi của Trung Quốc.

Nếu như những trường hợp trên chủ yếu là tổn thất về mặt kinh tế và môi trường, thì những thảm kịch liên quan đến mạng người cũng không phải là không có. Thảm khốc nhất phải kể đến sự cố vỡ đập do trận mưa lũ lịch sử "75.8" tại Hà Nam vào tháng 8 năm 1975. Dưới ảnh hưởng của cơn bão số 3 năm 1975 trên Thái Bình Dương (mã quốc tế 7503), lượng mưa trong 3 ngày tại khu vực Trú Mã Điếm lên tới 1.605,3 mm, lượng mưa trong 6 giờ là 830,1 mm, và lượng mưa lớn nhất trong 1 giờ đạt 189,5 mm (con số kỷ lục này mãi đến trận mưa lũ lịch sử ngày 20 tháng 7 năm 2021 tại Trịnh Châu mới bị xô đổ).

Là nút thắt quan trọng trong thảm họa này, hồ chứa Bản Kiều bị vỡ đập dù trước đó được coi là công trình kiểu mẫu trong việc trị lý sông Hoài vào những năm 1950. Trong thời đại đề cao khẩu hiệu "nhân định thắng thiên", ngôi đập này được đặt kỳ vọng rất lớn và được mệnh danh là "đập vỏ sắt". Thế nhưng quy luật khách quan không chuyển dịch theo ý chí của con người. Hồ chứa Bản Kiều có dung tích thiết kế tối đa là 492 triệu mét khối, nhưng lượng lũ tổng cộng mà nó phải hứng chịu lên tới 701,2 triệu mét khối. Rạng sáng ngày 8 tháng 8, hồ chứa Bản Kiều chưa kịp xả lũ đã bị vỡ đập, 700 triệu mét khối nước lũ ào ạt đổ xuống. Chỉ trong vòng vài giờ ngắn ngủi, hai hồ chứa lớn là Bản Kiều, Thạch Mạn Than cùng hàng chục hồ chứa vừa và nhỏ khác liên tiếp bị vỡ đập chuỗi, tạo nên tai nạn thảm khốc nhất và tổn thất lớn nhất trong lịch sử thủy lợi Trung Quốc.

3. Từ lịch sử đến hiện tại: Hiểm họa vẫn hiện hữu, giải pháp con người là tuyến phòng thủ quyết định

Mỗi khi có lũ lụt lớn xảy ra, người ta thường hỏi: Tại sao những con đập có tiêu chuẩn thiết kế chống chịu lũ "trăm năm có một" hay "năm mươi năm có một" lại không thể trụ vững? Ví dụ như hồ chứa Lục Lam ở Quảng Tây, nghe nói đã hoàn thành việc tu sửa theo tiêu chuẩn "trăm năm có một", nhưng nay vẫn xảy ra sự cố nghiêm trọng.

Ở đây cần làm rõ ý nghĩa khoa học của cụm từ "trăm năm có một" (chu kỳ lặp lại 100 năm). Nó không mang nghĩa đen là "100 năm mới xảy ra một lần", mà có nghĩa là trong bất kỳ một năm cụ thể nào cũng có thể xảy ra, xác suất xảy ra trận lũ đạt hoặc vượt tiêu chuẩn đó là 1% (1/100 năm). Theo tính toán xác suất, khả năng xảy ra ít nhất một lần trong vòng 100 năm là 63,4%, và xác suất xảy ra hai lần cũng lên tới 18,5%.

Hơn nữa, tiêu chuẩn "trăm năm có một" vốn dĩ liên tục thay đổi. Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi tần suất xuất hiện các hình thái thời tiết cực đoan. Những hiện tượng cực đoan trước đây được coi là "trăm năm có một" thì nay có thể trở thành "năm mươi năm có một", thậm chí xuất hiện thường xuyên hơn. Chẳng hạn như lượng mưa 201,9 mm trong 1 giờ tại Trịnh Châu trong trận mưa lũ Hà Nam năm 2021, hay lượng mưa tích lũy 490 mm tại khu vực lòng hồ Lục Lam ở Quảng Tây lần này, đều vượt xa tiêu chuẩn "trăm năm có một" của địa phương.

Một điều đáng nói là tin tức báo chí thường dễ gây ra ảo giác nhận thức cho người dân. Trung Quốc có lãnh thổ rộng lớn, nhiều lưu vực sông, môi trường thủy văn và tiêu chuẩn thiên tai ở mỗi nơi một khác. Trong các bản tin, chỉ cần có một địa phương xảy ra trận lũ "trăm năm có một", nó sẽ cho người xem cảm giác như "trận lũ trăm năm có một lại đến rồi"; những tin tức tương tự xuất hiện nhiều sẽ tự nhiên sinh ra ảo giác "lũ trăm năm mà tại sao năm nào cũng có".

Có thể mọi người vẫn thắc mắc, nếu "trăm năm có một" không bảo hiểm, tại sao không nâng tiêu chuẩn lên "ngàn năm có một"? Cần phải khách quan thừa nhận rằng, công trình thủy lợi suy cho cùng vẫn phải cân nhắc đến tính kinh tế. Nâng cao tiêu chuẩn rõ ràng có lợi cho việc giảm nhẹ thiên tai, nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc chi phí đầu tư vô cùng khổng lồ. Giữa an toàn và chi phí, bất kỳ công trình nào cũng chỉ có thể phòng ngự ở một cấp độ lũ hợp lý nào đó.

Đi sâu vào hiện trạng của Trung Quốc, điều cần cân nhắc không chỉ là xây dựng những con đập mới có cấp độ cao hơn, mà là làm thế nào để bảo trì hàng vạn "con đập già hơn 50 tuổi". Hiện nay, khoảng 80% hồ chứa nước của Trung Quốc được xây dựng trước năm 1980, nhiều công trình đã bước vào giai đoạn "tuổi già". Do giới hạn về điều kiện xây dựng ngày xưa, hiện tượng "trọng xây dựng, nhẹ quản lý và bảo dưỡng" diễn ra phổ biến, các thiết bị quan trắc đập không hoàn thiện. Nhiều hồ chứa tồn tại các vấn đề như thấm thân đập, lão hóa thiết bị, tiêu chuẩn phòng lũ thấp. Đặc biệt các hồ chứa quy mô nhỏ chiếm số lượng lớn nhất, đa phần do cấp nông thôn, cấp xã quản lý, phổ biến tồn tại các điểm nghẽn như cơ chế quản lý vận hành không thông suốt, lực lượng kỹ thuật mỏng và thiếu kinh phí. Tình trạng hồ chứa vận hành vượt quá mực nước hạn chế đón lũ, điều tiết vi phạm quy trình vẫn thỉnh thoảng xảy ra.

Nhắm vào các vấn đề này, nhà nước đã áp dụng các biện pháp mang tính hệ thống. Ví dụ, Bộ Thủy lợi cùng Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia đã liên danh ban hành “Phương án triển khai kiên cố hóa, xóa bỏ nguy hiểm cho các hồ chứa có nguy cơ mất an toàn toàn quốc (2025—2027)”, kế hoạch trong vòng 3 năm sẽ thực hiện kiên cố hóa cho hơn 200 hồ chứa lớn trung bình và hơn 4.800 hồ chứa nhỏ. Tuy nhiên, công chúng cũng cần nhận thức tỉnh táo rằng, ngay cả khi tất cả các hồ chứa đã hoàn thành kiên cố hóa thì nguy hiểm vẫn tồn tại. Một mặt, phòng chống lũ là một công trình mang tính hệ thống, một tuyến đê dù có kiên cố đến đâu, nếu một mắt xích yếu kém nào đó xảy ra vấn đề thì toàn bộ tuyến phòng thủ đều có thể sụp đổ. Đối mặt với hàng vạn "di sản" hồ chứa, việc kiên cố hóa và loại bỏ nguy hiểm là một quá trình lâu dài và gian khổ, đòi hỏi phải đổi mới công nghệ liên tục và đầu tư nguồn vốn khổng lồ.

Mặt khác, ngay cả khi đã được kiên cố hóa, hồ chứa cũng không thể tránh khỏi hoàn toàn sự càn quét của những trận lũ vượt quy chuẩn thiết kế. Lấy hồ chứa Lục Lam bị vỡ đập lần này làm ví dụ, ngôi hồ chứa với chức năng chủ yếu là tưới tiêu và cấp nước này đã phải hứng chịu trận lũ vượt xa giá trị cực hạn thiết kế.

Trong những tình huống cực đoan mà "biện pháp công trình" không thể bao phủ được, nhân tố con người sẽ trở thành tuyến phòng thủ mang tính quyết định. So với những cơn bão không thể kiểm soát, việc con người chủ động phòng ngừa và ứng phó tỏ ra có ý nghĩa hơn nhiều. Trong thảm họa hồ chứa Bản Kiều năm 1975, các vấn đề như tín hiệu cảnh báo không được truyền đạt hiệu quả, người dân không được sơ tán kịp thời đã làm trầm trọng thêm tổn thất. Trái lại, trước khi hồ chứa Lục Lam vỡ đập lần này, phần lớn người dân hoặc là đã nhận được cảnh báo, hoặc là đã được sơ tán di dời kịp thời, nên đã giảm thiểu tổn thất về người một cách hiệu quả.

Giờ đây, các phương tiện kỹ thuật như dự báo khí tượng, chỉ huy thông tin liên lạc đã không còn như xưa. Con người hoàn toàn có năng lực đưa ra những nhận định và quyết định kịp thời hơn, khoa học hơn trước khi thiên tai ập đến. Vết nứt của hồ chứa Lục Lam vừa là một lời cảnh báo đối với các công trình cũ kỹ, vừa là một bài kiểm tra đối với năng lực ứng phó của con người.

Đối mặt với thiên tai chưa biết trước, nếu có thể đưa ra dự báo sớm hơn, thì dù là chủ động xả bớt dung tích hồ chứa hay sơ tán người dân, di dời tài sản chuyên dụng đều có thể làm tốt hơn. Chuyển từ ứng phó cứu nạn bị động sang chủ động phòng ngừa kiểm soát, chuyển từ dựa dẫm vào công trình phòng thủ sang dự báo và triệt tiêu tổn thất thiên tai, có lẽ đó mới là con đường lý tính để ứng phó với thách thức từ hàng vạn "di sản" hồ chứa nước.

4. BÀI HỌC KINH NGHIỆM SÂU SẮC CHO VIỆT NAM

Việt Nam và Trung Quốc có sự tương đồng rất lớn về điều kiện khí hậu (chịu ảnh hưởng nặng nề của bão nhiệt đới), hệ thống sông ngòi dày đặc và đặc biệt là lịch sử phát triển hệ thống thủy lợi (nhiều công trình hồ chứa, đập tràn quy mô vừa và nhỏ được xây dựng từ những thập niên 1960 - 1980 bằng phương pháp thủ công hoặc công nghệ cũ).

Từ kinh nghiệm các sự cố hồ chứa năm 2026 tại Trung Quốc, Việt Nam có thể rút ra những bài học xương máu sau:

5.1. Giải quyết triệt để căn bệnh "Trọng xây dựng, nhẹ quản lý và bảo dưỡng" ở cấp cơ sở

Thực trạng tương đồng: Việt Nam có hàng nghìn hồ chứa nước nhỏ giao cho các địa phương, HTX hoặc các cấp xã quản lý. Nguồn kinh phí bảo trì eo hẹp, năng lực cán bộ kỹ thuật thủy lợi cấp cơ sở rất yếu.

Bài học: Không chỉ tập trung ngân sách xây đập mới mà phải phân bổ ngân sách định kỳ cho việc kiểm tra, duy tu các "con đập già". Cần luật hóa quy trình quy trách nhiệm và đào tạo bắt buộc cho lực lượng quản lý hồ chứa cấp cơ sở, chấm dứt tình trạng vận hành hồ chứa theo kinh nghiệm cảm tính.

5.2. Từ bỏ tư duy "Vừa khảo sát, vừa thiết kế, vừa thi công" trong dự án hạ tầng

Bài học: Bài học từ các công trình thủy điện lỗi của Trung Quốc như Hạ Kiều hay tai họa Tam Môn Hiệp cảnh báo Việt Nam tuyệt đối không được rút ngắn quy trình, đốt cháy giai đoạn trong quy hoạch thủy lợi, thủy điện vì áp lực tiến độ hoặc chạy theo tăng trưởng kinh tế. Mọi dự án tác động đến dòng chảy phải được thẩm định độc lập về địa chất, thủy văn và tác động môi trường dài hạn, tôn trọng các ý kiến phản biện khoa học thay vì ý chí chủ quan của nhà quản lý.

5.3. Tái định nghĩa lại khái niệm "Chu kỳ đỉnh lũ" trước bối cảnh biến đổi khí hậu

Thực trạng: Các công trình thủy lợi cũ của Việt Nam thường được thiết kế dựa trên dữ liệu khí tượng của thế kỷ trước. Hiện nay, hiện tượng "mưa cực đoan trong thời gian ngắn" diễn ra ngày càng khốc liệt (như đợt bão lũ lịch sử tại miền Bắc Việt Nam trong các năm gần đây).

Bài học: Cơ quan quản lý không được chủ quan vào các mác công trình "chống chịu lũ 50 năm/100 năm". Ngành thủy lợi cần phối hợp với ngành khí tượng cập nhật lại bản đồ rủi ro thiên tai và nâng chuẩn thiết kế an toàn đập dựa trên các kịch bản cực đoan mới nhất của biến đổi khí hậu, chứ không dùng số liệu lịch sử tĩnh.

5.4. Chuyển dịch từ "Ứng phó bị động" sang "Chủ động kiểm soát và triệt tiêu rủi ro"

Bài học: Giống như cách hồ chứa Lục Lam (2026) giảm thiểu tối đa thiệt hại mạng người so với thảm kịch Bản Kiều (1975), Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ việc "đi cứu hộ khi đập đã vỡ" sang "chủ động hạ mực nước hồ đón lũ" dựa trên dự báo sớm. Điều này đòi hỏi hệ thống cảm biến đo mực nước tự động và camera giám sát đập phải được phủ kín, truyền dữ liệu thời gian thực về trung tâm chỉ huy điều hành tập trung.

5.5. Xây dựng kịch bản xả lũ chuỗi và tối ưu hóa hệ thống thông tin cảnh báo sớm

Bài học: Khi một hồ chứa phía thượng nguồn gặp sự cố, nó sẽ tạo ra hiệu ứng domino (vỡ đập chuỗi) cho các hồ chứa phía hạ du. Việt Nam cần xây dựng các kịch bản xả lũ phối hợp liên hồ chứa (cả thủy lợi lẫn thủy điện) một cách nghiêm ngặt. Đồng thời, hệ thống cảnh báo sớm đến từng điện thoại di động của người dân vùng hạ du phải được kích hoạt tự động theo thời gian thực để việc di dời người và tài sản chuyên dụng được thực hiện trước khi nước lũ đổ về, lấy an toàn sinh mạng con người làm mục đích tối thượng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét